<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nam Mô A Di Đà Phật</title>
	<atom:link href="http://www.hugle.net/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.hugle.net</link>
	<description>Không có hạnh phúc nào bằng sự yên tĩnh của tâm hồn</description>
	<lastBuildDate>Fri, 05 Mar 2010 05:41:21 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.9.1</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Đại nguyện Lực Thứ 18-19 Của Đức Phật A Di Đà</title>
		<link>http://www.hugle.net/dai-nguyen-luc-thu-18-19-cua-duc-phat-a-di-da/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/dai-nguyen-luc-thu-18-19-cua-duc-phat-a-di-da/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 05 Mar 2010 05:41:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tịnh Độ]]></category>
		<category><![CDATA[A Di Đà]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=455</guid>
		<description><![CDATA[Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, (trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch cùng hủy báng chánh pháp), thời tôi không ở ngôi Chánh giác.
Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, thập phương [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><strong>Nguyện thứ 18:</strong> Lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, (trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch cùng hủy báng chánh pháp), thời tôi không ở ngôi Chánh giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nguyện thứ 19:</strong> Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm tu các công đức nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nều tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.</p>
<h2 style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/ADiDaPhat02.jpg" rel="lightbox[455]"><img class="aligncenter size-full wp-image-456" title="Đức Phật A Di Đà" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/ADiDaPhat02.jpg" alt="" width="436" height="600" /></a></h2>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;">Lời giới thiệu</span></h2>
<h3 style="text-align: justify;">A Di Đà Phật !</h3>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Thưa các Phật tử !</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Quyển luận giảng giải đáp này tôi viết ra là tâm tôi đã có thực hành rồi. Nên nói giảng chứ thực ra đây giống như là tôi viết bản tường trình của tâm mình cho các Phật tử biết vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Thưa quý Phật tử! Tôi có duyên lành nên tôi biết niệm Phật cầu vãng sanh từ lúc nhỏ (7 tuổi), đến nay đã hơn 30 năm rồi. Những gì biết về Tịnh độ tôi đều viết ra hết trong quyển sách nhỏ này. Cho nên quyển sách nhỏ này có thể sẽ là bằng chứng cho công đức tu hành của tôi bao năm qua và kết quả của tôi sau này khi tôi vãng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Thưa quý vị! Tôi không phải là giảng sư hay là nhà viết sách chuyên nghiệp, nhưng vì để giải đáp trước những khúc mắc cùng với những mối nghi vấn về Tịnh độ của quý phật tử nhằm giúp cho quý Phật tử an tâm trên con đường tu hành của mình. Chính vì thế nên tôi viết ra bài luận này nhưng vì kém văn chương, chữ nghĩa lại đơn sơ nên không được lưu loát và mộc mạc, nhưng với tâm chân thành tôi đều gửi gắm hết vào đây. Và xin nói thật với quý vị là tôi cũng chẳng còn khả năng giảng nói được hay hơn và nhiều hơn nữa mà chỉ có duy nhất một quyển luận giảng tâm đắc này thôi, nên nó coi như là một quyển sách quý kỷ niệm của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên nhân tôi viết ra quyển này vì trước kia tôi gặp nhiều người tu Tịnh độ còn yếu chưa vững, lại gặp nhiều lý thuyết đã phá làm cho sinh nghi. Và chính tôi trước kia cũng lo lắng chưa yên tâm, cho nên tôi quyết tìm hiểu nghiên cứu những kinh Tịnh độ và tôi đã phát hiện ra điều nguyện thứ 19 của Phật trong kinh Vô Lượng Thọ có sự bảo hiểm an toàn cho người tu khi lâm chung. Ngay lúc đó lòng tôi vô cùng an lạc, vui mừng như được bảo vật quý nhất trên đời. Sau đó tôi quyết viết luận giảng để phá tan mọi nghi vấn kia, để cho những Phật tử tu Tịnh độ đều được Tín tâm yên lòng trên đường tu niệm: vãng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi lần quyết định viết thì ý nghĩ giáo lý phát sanh ra quá nhanh, thắng cũng không kịp. Còn tay thì viết quá chậm và sai chính tả lung tung nên kết quả nó dồn cục, lộn đầu này trật đầu kia như bị rối băng. Nhưng khi dò lại thì chính tôi cũng không đọc ra nỗi nên kết cục phải bỏ hết và làm lại nhiều lần như vậy. Sau cùng tôi phải dùng máy thu băng chung vô tủ ngồi một mình nhưng cứ tưởng ở pháp hội giảng cho mọi người nghe nên vừa nói vừa múa tay diễn tả coi cũng oai lắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thu xong tôi chung ra thở hổn hển vì bị ngột. Rồi tôi để trước bàn Phật bắt máy nghe lại, khi nghe rồi lòng tôi sinh hỷ lạc, vui mừng vô cùng. Lúc đó, nhìn tượng Phật A Di Đà, tôi thấy Ngài như đang nhìn tôi mỉm cười đồng ý. Và liền sau đó tôi ra chợ sang ra 10 băng, lúc ra dường tôi cỡi xe đạp mà có cảm giác nhẹ nhỏm như muốn bay bổng lên. Sau đó tôi nghĩ băng không tiện dụng bằng quyển sách, nên tôi nhờ cô Phật tử nghe trong băng ghi chép vào sách giùm tôi và sau một tháng mới xong. Khi xem lại thì thấy cô bỏ xót quá nhiều nên tôi dùng máy trả lui băng nhiều lần để nghe lại và viết thêm cho đầy đủ. Trong phần sau tôi giải đáp thêm cho rõ ý 2 điều nguyện. Lúc có những câu hỏi căng thẳng nghi ngờ về Phật tôi luận giảng mà lòng xúc động bi cảm lệ tuôn không kềm được. Và cuối cùng tôi cũng hoàn thành tâm nguyện, viết xong quyển này và đưa đi in ấn 500 quyển phát tặng cho quý Phật tử khắp nơi. Lần này tôi tái bản thêm 500 quyển và giải đáp thêm nhiều câu hỏi nữa và lời giới thiệu này. Và lần tái bản này (2007), tôi thêm vào phần ĂN CHAY GIẢI ĐÁP &amp; CHUYỂN KỂ LINH ỨNG BỒ TÁT CỨU NẠN.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử! Kinh Tịnh độ hiện nay rất nhiều nhưng tôi xem thấy phần nhiều giảng dạy theo văn vần của người xưa vừa dài rộng, ý nghĩa thì mênh mong. Quyển kinh thì quá to dày và phải xem nhiều thì mới rõ được ý kinh. Mà thời đại này người muốn tu nhưng ít ai rãnh để nghiên cứu (nhứt là Phật tử tại gia). Nên tôi luận giảng quyển này, văn vần gần vời người nay lại chỉ ngay điểm gốc quan trọng nhất của sự vãng sanh. Quyển sách lại nhỏ gọn nên người xem đỡ ngán, và không mất nhiều công sức nghiên cứu và y theo quyển này mà tu thì bảo đảm cầm chắc vé vãng sanh trong tay.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thích Thiện Thuận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lời nói đầu</p>
<h3 style="text-align: justify;">Thành tâm cúng dường chư Phật vị lai</h3>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Thưa các liên hữu Phật tử!</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ai cũng biết đá nặng thì không thể qua biển được, nhưng có thuyền to chở qua thì dễ dàng. Chúng sanh cũng vậy, tội nhiều chướng nặng thì không thể liễu thoát sanh tử, nhưng có thuyền nguyện lực của chư Phật đưa qua biển sanh tử dễ dàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp môn Tịnh độ là một pháp tha lực, là thuyền từ cứu độ chúng ta. Riêng bản thân tôi tự xét nghiệp chướng nặng, tự sức mình biết khó giải thoát đường sanh tử nổi, nhưng may quá tôi đã gặp được thuyền nguyện lực của đức Phật và đã bước lên thuyền (đủ Tín-Nguyện-Hạnh) từ lâu, chỉ chờ thuyền cập bến là đến cõi Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Phần tôi có chỗ nương tựa rồi, nhìn thấy còn bao nhiêu chúng sanh chơi vơi trong biển khổ, do đó tôi muốn kêu gọi mọi người cùng bước lên thuyền, cùng được về cõi Phật. Chính vì vậy, từ lâu tôi muốn viết một tập sách nhỏ, trong đó nói rõ về nguyện lực thuyền từ của Phật để giới thiệu cho mọi người cùng biết. Nhưng vì lực bất tòng tâm, ý muốn mà sức khỏe&#8230; không cho phép. Cho đến hôm nay vì tha thiết ơn dày của Phật mà tôi cố gắng đem hết sức của mình luận giảng viết thành quyển sách nhỏ gởi tặng đến quý liên hữu để cùng tìm hiểu, tu học.</p>
<p style="text-align: justify;">Thưa các liên hữu Phật tử, điều nguyện thứ 18-19 là nguyện lực quan trọng của Phật A Di Đà để tiếp dẫn chúng ta, nhưng phần nhiều khi giảng đến pháp môn Tịnh độ, thường chỉ chú tâm đến điều nguyện thứ 18 mà ít luận giảng nguyện 19, nên thường khuyên các Phật tử lúc lâm chung phải niệm Phật được 1 hoặc 10 lần mới được vãng sanh, do đó người tu thấy khó mà tự mất lòng tin của mình, không tin chắc mình được vãng sanh vì lo ngại không niệm được lúc lâm chung. Chính vì chỗ nghi ngại này mà tự ngăn cách mình với Phật (nên không cảm ứng đạo giao được). Để phá mọi nghi chấp đó, tôi xin giảng rõ 2 điều nguyện 18-19 của Phật A Di Đà để mọi người tin chắc mình được vãng sanh với điều kiện hành cho đúng văn nguyện của Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử! Trong nhà Phật thường nói đến &#8220;Nhân-Duyên: Nhân là hạt giống duyên là đất, nước, phân&#8230; có nhân, đủ các duyên hòa hợp lại thì sanh ra hoa quả&#8221;. Trái lại, có nhân thiếu duyên hoặc có duyên mà thiếu nhân thì không sanh ra quả được. Pháp tu Tịnh độ cũng không ngoài hai chữ Nhân Duyên. Nhân Tịnh độ là lời đại nguyện của Đức Phật lập ra, đây là phần của Phật đã tạo nhân sẵn dành cho chúng ta. Duyên Tịnh độ là lòng tin Phật-chí nguyện và hạnh niệm Phật. Duyên đây là phần của chúng ta phải tạo ra cho đủ. Như vậy có nhận đủ duyên hòa hợp nhau rồi, thì chỉ thời gian sinh trưởng và kết quả chúng ta được vãng sanh Cực Lạc còn Đức Phật thì mãn nguyện từ bi. Nếu chúng ta thiếu một trong ba điều kiện Tín-Nguyện-Hạnh là thiếu duyên Tịnh độ, nên không thể hòa hợp với nhân nguyện của Phật và không có quả vãng sanh được. Như vậy nhân nguyện của Phật là thuyền từ bi cũng đành bỏ trống. Vậy từ hôm nay, các Phật tử chúng ta phải tạo duyên Tịnh độ, lòng tin-chí nguyện-hạnh niệm Phật cho đủ, được như vậy là đúng với nhân nguyện của Phật, coi như mình đã bước chân lên thuyền Đại nguyện của Phật rồi, và yên tâm chỉ chờ thuyền cập bến Cực Lạc nữa là xong. Có nghĩa là đủ Tín-Nguyện-Hạnh rồi thì chỉ chờ mãn Báo Thân cõi Ta Bà liền vãng sanh qua Cực Lạc Nước của Phật A Di Đà.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử: nếu các vị y theo điều nguyện 18-19 của Phật mà Tôi luận giảng tu niệm, mà không được vãng sanh khi lâm chung, thì Tôi xin nguyện: bao nhiêu tội khổ của quý Phật tử Tôi xin chịu thay và đọa xuống địa ngục cho đáng.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử! Tôi dám nguyện như vậy là vì Tôi tin chắc các vị y theo nguyện 18-19 của Phật thì đều được vãng sanh tất cả. Nếu các Phật tử hành đúng văn nguyện 18-19 rồi mà không được vãng sanh, chẳng những tôi chịu đọa địa ngục, mà Phật A Di Đà cũng phải từ chức ngôi vị Chánh Giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử! Một pháp tu có tôi phát nguyện, có Phật bảo hiểm có tánh cách quyết định cho đường sinh tử. Nếu không phải căn lành quá khứ của quý vị đã mùi, duyên lành xui đến thì làm gì quý vị gặp được thuyền nguyện lực của Phật và bài giảng của tôi. Cho nên tập sách nhỏ này tôi rút hết tâm huyết của mình và để tặng các Phật tử hữu duyên Tịnh độ. Tập sách này ngắn gọn nhưng có tánh cách quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">Mong các quý vị xem kỹ hành cho đúng văn nguyện 18-19 của Phật, thì có tôi phát nguyện, có Phật đảm bảo trên đường về Cực Lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài giảng</p>
<h3 style="text-align: justify;">Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.</h3>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay Tôi giảng điều nguyện thứ 18-19 của Phật A Di Đà.<br />
Vì phần nhiều ai cũng có thể niệm Phật được, nhưng hiểu cho rõ cái nguyên nhân và mục đích của sự niệm Phật thì ít ai hiểu được cho đúng. Do đó người tu niệm Phật rất nhiều mà kết quả thì rất ít, bởi vì niệm Phật mà không đúng cái mục đích mà Phật đã dạy chúng sanh niệm Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường người đời cũng thường nói &#8220;Tu Niệm&#8221;. Như vậy chữ tu nó dính liền chữ niệm, có nghĩa người tu thì phải niệm Phật, niệm kinh&#8230; nên chữ tu người ta hiểu là phải niệm. Như vậy họ chỉ biết tu phải niệm, còn niệm để làm gì, và mục đích thì họ hoàn toàn không rõ. Cho nên nhiều người cả đời đi chùa niệm Phật chỉ cầu phước, cầu an, tai qua nạn khỏi&#8230; cầu như vậy cũng có đức tin vào chư Phật, cũng thuộc về thiện lành rất tốt, nhưng cầu như vậy không đúng cái mục đích mà Phật dạy chúng sanh, nên chúng ta phải hiểu thẳng rằng: niệm Phật để sanh qua thế giới của chư Phật. Tại sao niệm Phật mà được sanh qua thế giới của chư Phật? Vì Phật đã phát hoằng thệ nguyện: &#8220;Nếu chúng sanh nào muốn về nước Ngài niệm từ 10 niệm nếu không được sanh thì Ngài không ở ngôi Chánh Giác&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Do cái nhân nguyện này mà Phật Thích Ca mới thị hiện vào đời mà dạy chúng sanh niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà để được sanh qua thế giới Cực Lạc của Ngài. Cho nên lời dạy của Đức Phật Thích Ca là dạy chúng sanh niệm Phật để sanh qua Cực Lạc của Đức Phật. Mà chúng sanh niệm Phật để cầu an cầu phước&#8230; như vậy nó không đúng cái mục đích Phật đã dạy mặc dầu chúng ta niệm Phật có niềm tin cũng gieo căn lành với đức Phật, nhưng niệm như vậy hiện tiền nó không được kết quả mỹ mãn vì nó sai mục đích của Ph-ật dạy. Cho nên hôm nay, tôi luận giảng điều nguyện 18-19 của Đức Phật A Di Đà để chúng ta biết chúng ta niệm cho trúng ý nghĩa mục đích, để kết quả một đời này vãng sanh về với Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi giảng &#8220;nguyện là gì?&#8221;. Nguyện là lời thề thốt hứa hẹn với mình, cho nên những vị phát tâm tu hành hướng về đạo quả Bồ đề được gọi là phát Tâm Bồ Tát. Các Ngài thường phát ra lời thề thốt, để lời thề thốt đó gọi là nguyện lực. Nó có sức mạnh nung nấu tinh thần để các Ngài y theo lời hứa hẹn đó mà tiến lên con đường tu để thành đạt cái ý chí đó, thực hành theo ý chí đó mà độ chúng sanh, gọi là lời thề nguyện. Nên nguyện lực là sức mạnh của lời hứa hẹn, gọi là lời thề. Cũng như người sắp ra chiến trận, họ biết trong chiến trận có nhiều sự gay go, gian khổ, nguy hiểm, người sợ thối chí đổi lòng nên người ta kết bạn thề vói nhau &#8220;Thà chết chứ không hàng&#8221; nên khi giao chiến dầu có khó khăn, nguy hiểm, người ta nhớ cái lời này mà dũng mãnh chiến đấu, sức mạnh của nó làm cho người ta vượt qua những khó khăn mà được chiến thắng, nên các Ngài Phát Tâm tu hành trước hết người ta có lời thề, cái tâm nguyện người ta muốn đạt cái mục đích đó, nhưng nếu phát ra mà chỉ tự với mình thì chưa đủ làm cho ý chí đó mạnh mẽ, nên cần có người khác chứng biết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên tiền than Đức Phật A Di Đà còn là một vị Vua tên là Vô Tránh Niệm. Khi Vua Vô Tránh Niệm cùng quan phu tướng tên là Bảo Hải đến dự Pháp Hội của Phật Bảo Tạg Như Lai , khi vua Vô Tránh Niệm thấy Đức Phật Bảo Tạng Vương Như Lai dung sức thần thông phóng đạo hào quang cho thấy 10 phương quốc độ thế giới của Chư Phật. Tất cả cảnh giới hiện rõ trên đài Hào quang tròn (Giống như đài truyền hình chiếu phim).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua theo dõi nhìn từng Quốc độ hiện ra. Vua thấy có cảnh giới thì chúng sanh an vui thụ hưởng tự nhiên, thân vàng tướng đẹp, đất vàng bằng phẳng, thọ mạng lâu dài. Có cảnh chúng sanh khan khổ đói nghèo, thiếu thốn, nhều bệnh tật, đát đai hầm hố thô xấu&#8230; Vua mới thắc mắc vì sao các quốc độ không đồng nhau, thì Phật Bảo Tạng giải rằng : Do tâm thanh tịnh nên cảm ra thế giới thanh tịnh. Còn tâm bất tịnh thì cảm ra thế giới xấu nhơ&#8230; như vậy tất cả cảnh giới đều do tâm tạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vua Vô Tránh Niệm hiểu được nguyên nhân rồi Ngài mới dung cái trí suy nghĩ để sắp đặt cái chí nguyện của mình dung cái tâm thanh tịnh mà hành đạo Bồ Tát để kết hợp thành một cảnh cực kỳ trang nghiêm đẻ Ngài nhiếp thủ chúng sanh đem về giáo hoá cho thành Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi Ngài suy nghĩ sắp đặt xong rồi thì vua liền đến trước pháp hội của Phật Bảo Tạng, cầu Đức Phậtvà chúng hội Bồ tát chứng minh cho Ngài . Ngài thuẩta 48 lơì thề nguyện của mình để hứa hẹn với chúng sanh . Đại ý của 48 đại nguyện đó là nguyện kể từ nay Ngài phát48 lời nguyện để trang nghiêm tịnh độ , để thành lập một cõi cực lạc hoàn toàn an vui, một lần sinh ra từ hoa sen hoá sanh và sống mãi cho đến ngày thành Phật (không còn sanh tử dời đổi đi đâu nữa).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vua Vô Tránh Niệm quỳ gối chắp tay đối trước Phật Bảo Tạng và chúng hội trường thuật 48 lời Đại nguyện xong thì trời đất chấn động, trên không hoa rơi xuống như mưa. Đức Bảo Tạng thọ ký cho vua Vô Tránh Niệm về sau thành Phật hiệu là A Di Đà Phật thống lãnh cõi nước tên là Cực Lạc (tức Tây Phương Cực Lạc bây giờ). Khi Phật Bảo Tạng thọ ký xong rồi thì vua Vô Tránh Niệm kể từ đó mới tu Bồ tát Đạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Gọi là nguyện hạnh , vì cái lời nguyện là cái tâm của n=mình muốn đậtcí việc nình đã muốn , nên khi nguyện có người chứng biết rồi , bắt đầu Ngài phải thi hành theo cơ sở nguyện là tu Bồ Tát Đạo .</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Bố thí</li>
<li>Trì giới</li>
<li>Nhẫn nhục.</li>
<li>Tin tấn</li>
<li>Thiền định</li>
<li>Trí huệ.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Nếu nguyện mà không thành là nguyện suông cho nên nguyện lớn là đã khó rồi mà hành để đạt hoàn thành viên mãn sở nguyện là rất khó. Cho nên Đức A Di Đà tiền thân là vua Vô Tránh Niệm đã phát 48 điều Đại nguyện , nó bao chứa tất cả lòng từ bi để trang nghiêm cõi Phật độ.Trong 48 điều nguyện của Phật A Di Đà, tất cả các điều nguyện nhằm vào trang nghiêm tịnh độ  Chỉ có 2 điều nguyện 18-19 là nhằm vào sự nhiếp thủ chúng sanh để đem về tịnh độ nên 2 điêu nguyện này thật quan trọngvà có tính quyết định .</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vua Vô Tránh Niệm phát 48 nguyện lực được Phật Bảo Tạng thọ ý rồi thì vị quan phụ tướng của vua tên Bảo Hải cũng phát nguyện rằng: cho đến khi tôi thành Phật . Tôi ngự trị vào cõi đời tối tăm đau khổ để giới thiệu chỉ daỵ cho chúng sanh . Biết được nguyện lực của Phật A Di Đà để nương nhờ nguyện lực của Ngài mà mau giải thoát đường sanh tử sớm thành Phật. Và Phật Bảo Tạng Vương thọ ký cho quan phụ tướng Bảo Hải về sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà Này.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ khi vua Vô Tránh Niệm và quan phụ tướng Bảo Hải được Phật Bảo Tạng thọ ký rồi, hai Ngài trải qua vô số tăng kỳ kiếp tu hạnh Bồ tát, lợi ích chúng sanh, đến kỳ viên mãn phước huệ của đạo bồ tát thì vua Vô Tránh Niệm thành Phật Di Đà làm giáo chủ cõi Cực Lạc. Trong khi Ngài thành Phật đã trãi qua 10 kiếp rồi mà thế ở thế giới Ta bà này chúng ta chưa biết, vì đức Phật Thích Ca chưa thị hiện vào đây. Cho đến khi Đức Thích Ca thị hiện vào đây rồi và Ngài dung Phật nhãn nhớ lại quá khứ Đức A Di Đà và Ngài đã nguyện nên Ngài mới dạy pháp môn Tịnh Độ , dạy chúng sanh niệm Phật để được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.</p>
<p style="text-align: justify;">Như kinh Vô Lượng Thọ Phật nói lại lịch sử tiền thân của Đức Phật A Di Đà . Trong khi kinh Bi Hoa nói tiền thân Phật A Di Đà là vua Vô Tránh Niệm phát 48 đại nguyện nơi Pháp hội của Phật Bảo Tạng và từ đó chuyên tu hạnh Bồ Tát vô số kiếp. Sau đó lại chuyển sanh làm Pháp tạng tỳ kheo ở thời kỳ pháp hộ của Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai , và muốn nhắc lại lời nguyện của mình với chúnh sanh nên Ngài mới tường thuật 48 đại nguyện một lần nữa , trong kinh vô lượng thọ , Phật Thích Ca nói Pháp tạng tỳ kheo này phát 48 đại nguyện trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai và hành 6 độ Ba la mật để thành tựu sở nguyện của mình , Trải qua vô số kiếp ngài thực hành trọn vẹn 6 độ ba la mật nên Ngài thành Phật hiệu A Di Đà ở phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy vua Vô Tránh Niệm là thân trước , pháp tạng là hậu thân sau đều nhằm vào 48 đại nguyện của mình , cho nên bây giờ Ngài thành tựu hiện là A Di Đà, và dùng 48 lời nguyện đó luôn đứng bên cõi Cực Lạc danhg tay tiếp đón những người niện Phật khắp mười phương đem về giáo hoá cho thành Phật .</p>
<p style="text-align: justify;">Nên hôm nay tôi giảng rõ điều nguyện thứ 18-19 cho các Phật tử biết nguyên nhân và lòng từ bi của Phật A Di Đà đã hứa hẹn với chúng ta, cái lời nguyện là lời hứa hẹn. Cũng như bây giờ trồng trọt, mình hứa với mọi người: &#8220;nếu tôi trúng mùa tôi sẽ cho anh cùng hưởng&#8230;&#8221; nhưng chúng ta hứa hẹn mà không có ai làm chứng , khỉtún mùa nhưng đôi khi do lòng tham nó làm cho mình đổi lòng và quên lời hứa trước. Người đời thường là như vậy , nên muốn thủ tín cho người tin lời hứa của mình thì cần phải cần người làm chứng . Nếu sau đó đổi lòng thì bị xấu hổ , mất mặt với thiên hạ. Cho nên Đức A Di Đà tiền than là vua Vô Tránh Niệm vì lòng từ bi muốn độ chúng sanh nhưng sợ chúng sanh nghi ngờ nên vua Vô Tránh Niệm và hậu thân sau là pháp tạng tỳ kheo mới phát lời thề và cầu đức Phật chứng minh lời hứa của mình để làm tin cho chúng sanh nên khi Ngài thành Phật rồi , Ngài y theo bổn nguyện của mình mà tiếp độ chúng sanh . Nên chúng sanh khắp 10 phương mà nương cái nhân duyên niệm Phật là đúng vao bổn nguyện của ngài, thì đều được Ngài độ thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 48 lời đại nguyện , Ngài nguyện nếu có một nguyện nào mà Ngài không thực hiện đúng như lời thệ nguyện thì ngài không thủ ngôi Chánh Giác. Nghĩa là quả vị Phật đó các Phật tử và Ngài đã thực hiện trọn vẹn cho nên Ngài mãi mãi là một vị Phật mà mười phương chư Phật đều khên ngợi là đệ nhất. Chính Đức Thích Ca thấy lời Đại nguyệnnày nên Ngài vào cõi đời mà dạy chúng sanh phải y theo cái nhân nguyện mà tạo duyên tín-nguyện-hạnh để được đức Di Đà độ thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi giảng chánh văn : &#8220;Điều nguyện thứ 18 lúc toi thành Phật , thập phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh được về nước tôi nhẩm đến 10 niệm như nếu không được sanh thì tôi không thủ ngôi chánh giác.(Trừ kẻ tội phạm ngũ nghịch và huỷ báng chánh pháp mà thôi)&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều nguyện thứ 18 này hứa với chúng sanh rằng: &#8220;Lúc tôi thành Phật&#8221; có nghĩa trên đường tu Bồ tát hạnh và đến cái thời viên mãn trên đường Bồ tát hạnh đó là lúc Ngàu thành Phật . Thành Phật là lúc phước huệ viên mãn trí huệ thần thông tự tại gọi là toàn năng toàn trí toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thập phương chúng sanh.</strong><br />
Thập phương chúng sanh.có nghĩa là 10 phương: Đông &#8211; Tây &#8211; nam &#8211; Bắc &#8211; Đông Nam &#8211; Tây Nam &#8211; Đông Bắc &#8211; Tây Bắc &#8211; ThượngHạ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng sanh. chữ chúng có nghĩa gọi chung là chỉ chung cho tất cả chúng sanh . Sanh có nghĩa là sanh mạng, trên từ Bồ Tát xuống đến tận địa ngục gọi là 9 giới chúng sanh , đối với Phật gọi chung là chúng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nói thập phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh về nước tôi chí tâm có nghĩa là ý chí, cái tâm con người gọi là tâm ý mà tâm ý nó gom lại tột độ để làm chi ? để tin mộ , là đem cái tâm chí cao độ nó tin tưởng Ngài là một vị Phật đã thành toàn năng toàn trí toàn giác có long từ bi có Đại nguyện lực.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta tin tưởng Ngài đã thành Phật như Phật Thích Ca , có đầy đủ thần thông và nguyện lực. Và tin cái cõi Cực lạc do 48 nguyện lực của Ngài thành lập thật là trang nghiêm , an vui gọi là chí tâm tin . tin rồi bắt đầu mình mộ , mộ có nghĩa là gì? Chữ mộ có nghĩa là mến , nên chữ mộ ở đây gọi là tín mộ , nghĩa là mình đem hết cái tâm thành thật tin tưởng Ngài và quốc độ Ngài rồi mình mới cảm được cái ơn đức sâu dày của Ngài. Vì lòng từ bi mà phát 48 đại nguyện rồi thực hành đại hạnh trải qua nhiều số kiếp cho đến hôm nay thành một vị Phạt mà không vào Niết bàn an nghỉ, luôn đứng xoè tay mà tiếp đón chúng sanh từ khắp 10 phương mà đem về miền Cực Lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng như ngườ mẹ hiền tận tuỵ với đàn con thơ ấu dại xa bỏ quê hương lăn lội xứ người , người mẹ ngày đêm thao thức để rước đón con về để giáo hoá cho thành Phật . Nên mình cảm ái ơn đức sâu dày của Phật , ròi mình mới mến thương Đức Phật gọi là mộ .Mộ rồi mình muốn về nước Ngài , muốn có nghĩa là cái long muốn về Cực Lạc sống chung với Phật để nhờ Ngài dùng lòng từ bi giáo hoácho mình nên gọi là muốn .</p>
<p style="text-align: justify;">Muốn sanh về nước tôi nhẫm đến 10 niệm , ở câu hiệu này có nghĩa chữ nhẫn không phải là nhẫn nhục mà ý nói tắt là muốn về nước tôi nhẩm đến 10 niệm nếu không được sanh thời tôi không ở ngôi Chánh Giác. Như vậy muốn về nước Ngài niệm được 10 niệm mà không được sanh thì Ngài không thủ ngôi Chánh Giác , chỉ trừ người phạm tội ngũ nghịch và huỷ bang chánh pháp mà thôi. Cái điều nguyện chỗ này chúng ta nên chú ý cho kỹ là Ngài nói tín mộ muốn về nước Ngài rồi niệm nhẩn đến 10 niệm nếu không được sanh Ngài không thủ ngôi Chanh Giác. Chỗ này chúng ta phải hiểu Ngài nói nếu không được sanh , có nghĩa là phải được sanh, nhưng được sanh Ngài không cho biết sanh ở đời này hay đời sau. Nên chỗ này chúng ta cần phải nêu ra đẻ luận rõ, vì cái nguỵên là cái nhân không thể nào mà thay đổi được .Nếu chúng ta thực hành đúng cái nhân này thì nhất định sẽ được đức Phật độ. Còn nếu chúng ta thực hành sai thì không thể khiếu nại được , nên cái chỗ này chúng ta cần phải để ý. Ngài nguyện rằng nhẩm đến 10 niệm nếu không được sanh, có nghĩa là phải được sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy có người chí tâm tín mộ niệm 10 niệm rồi sau không tu niệm nữa có được sanh không? Nhất định dược sanh nhưng mà nó lọt về vô số kiếp về sau mới được sanh. Bởi vì tín tâm ham muốn và niệm được mười niệm , tức là mười niệm này nó kết vào chủng tử hạng thức A Lại Da , lâu đời lâu kiếp nó hiện hành phát sanh ra đến kiếp vị lai nó mùi mới được Phật độ. Như vậy , người tín tâm ham muốn niệm 10 niệm sau không niệm nữa thì được sanh ở kiếp về sau như vậy đường sanh tử nó còn dài. Nên cái câu mà Đức Phật nguyện niệm 10 niệm của điều nguỵện 18 của Phật A Dia Đà được Đức Thích Ca dạy rõ trong Quán Kinh và Kinh Niệm Phật Ba La Mật, nói 10 niệm được sanh một đời này này là niệm vào lúc lâm chung. Cho nên chúng ta phải hiểu cái lời nguỵện của Đức A Di Đà đã nguỵên cho đúng nghĩa trong Kinh Niệm Ba La Mật , Đức Thích Ca dạy 10 niệm được vãng sanh , là khi lâm chung phải cố giữ niệm cho được 10 niệm nối nhau thì liền được vào Phổ Đẳng tam muội của PhậtA Di Đà liền được sanh qua Cực Lạc .</p>
<p style="text-align: justify;">Còn Quán Kinh cũng dạy 10 niệm vãng sanh là niệm lúc lâm chung . Như vậyđiều niệm thư 18 nói niệm 10 niệm được vãng sanh là ý Ngài nguyện lúc lâm chung ai niệm 10 lần thì Ngài liền đến tiếp dẫn sanh qua cực lạc bằng không Ngài không thủ Ngôi Chánh Giác. Vậy thì quá rõ rồi, nên chúng ta muốn sanh qua Cực Lạc phải niệm 10 lần vào lúc lâm chung (là lúc sắp chết). Mà muốn lúc lâm chung niệm được thì bây giờ phải tập niệm cho quen gọi là tích luỹ nghiệp  Có nghĩa là lúc chúng ta đi, đứng, nằm ,ngồi chúng ta vẫn phải luôn niệm Phật hoặc niệm ra tiếng hoặc niệm trong tâm. Niệm: &#8220;Nam mô A Di Đà Phật&#8221; hoặc A Di Đà Phật đềi được cả, và phải niệm cho lien tục trong lòng chỉ trừ khi làm việc bằng trí óc thì chúng ta mới tạm ngưng , nhất là lúc sắp ngủ chúng ta niệm cho đến lúc ngủ quên mới thôi. Chúng ta niệm được như vậy là nó tích luỹ câu Phật hiệu , huân tập chất chứa trong tạng thức , nó thành cái chủng tử niệm Phật nó thành một cái tràng niệm Phật nó thành một sức mạnh niệm Phật , nó thành thói quen niệm Phật gọi là Tịnh nghiệp niệm Phật. Đến khi thân hoại mạng chung do cái thói quen niệm Phật này , nên vừa tác ý niệm Phật thì câu Hồng danh nó liền bung tràn ra do chúng ta đã huân tập sẵn nên nó rất dễ niệm . Còn nếu bình thường chúng ta không huân tập niệm Phật đến lúc lâm chung nào thì bệnh đau hành khổ , nào là thương con tiếc của rồi nghiệp tạo trong đời và nghiệp đời quá khứ nó hiện ra nên chúng ta khó mà niệm được. Cho nên Kinh A Di Đà Đức Phật dạy phải niệm từ 1 đến bảy ngày cho tâm không loạn để lúc lâm chung được vãng sanh. Và kinh Niệm Phật Ba La Mật đức Phật dạy ta thường đi dứng, nằm, ngồi phải luôn niệm Phật cho chuyên nhất , cho nó thành thói quen. Như vậy,đức A Di Đà nguyện là chúng sanh niệm chỉ có 10 niệm lúc lâm chung thôi . Nhưng đức Thích ca thấy chúng ta nghiệp chướng quá sâu nặng mà muốn niệm được lúc lâm chung thì phải huân tập. Cho nên chúng ta niệm Phật thường thì hiện đời được nghiệp chướng tiêu trừ được tai ưua nạn khỏi (mặc dầu chúng ta không có cầu an). Và đến khi lâm chung , do ta đã huân tập sẵn nên niệm Phật đựoc dễ dàng và sự vãng sanh được đảm bảo chắc chắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều người nói: &#8220;Nếu vậy tôi đợi lúc lâm chung rồi niệm 10 niệm còn bây giờ chơi cho đã tu niệm mệt lắm?&#8221; Xin thưa bình thường không huân tập thì đến giờ chết không tài nào niệm được đâu . Cho nên muốn niệm được thì bình thời hãy niệm cho quen đi. Như vậy , ai đã tín mộ Ngài và niệm 10 niệm trong lúc lâm chung thì đều được vãng sanh , thì đều được vãng sanh , chỉ trừ người tạo tội ngũ nghịch. Tội ngũ nghịch là gì ? 1-là tội giết mẹ, 2-là tội giết cha , 3-là tội giết bậc A La Hán, 4-làm than Phật ra máu, phá hoà hợp tăng. Đây gọi là tội ngũ nghịch vì sao ? Vì cha mẹ có công nuôi dưỡng mình mà mình nhẫn tâm sát hại nó trái với đạo lý nên gọi là nghịch , còn những bậc A La Hán là người chơn tu hiền từ đã đắc đạo quả Thánh mà mình đem cái tâm ác giết hại , cho đến Đức phật có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh , Ngài ra đời để cứu độ chúng sanh mà mình đem tâm ác giết hại cũng như Đề Bà Đạt Đa đem cái tâm lăn đá đè chân Phật chảt máu &#8211; gọi là phạm tội ngũ nghịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay Phật không còn tại thế , nhưng ai ác tâm phá huỷ chùa tháp tượng phật thì đồng tội làm thân Phật ra máu . Còn tội phá hoà hợp tăng nghĩa là gì ? Là chúng tăng đoàn tụ hội nơi tu hành , nếu dung thế lực để chia rẽ , phân tán hoặc đâm thọc them bớt cho bất hoà nhau đều là phạm tội phá hoà hợp tăng. Nguyện của Phật chỉ trừ những người phạm 5 tội này và tội huỷ báng Chánh Pháp . Huỷ báng Chánh Pháp là gì ? Chánh Pháp là những lời Phật dạy cuả chư Phật gọi là &#8220;Kinh Luật&#8221; mà ai đen tâm khinh chê chống đối bài bác gọi là huỷ báng Chánh Pháp. Như vậy những người ác kiến không tin và những ngoại đạo hay chê bai giáo lý của Phật. Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận vì không khéo thì có lúc những người tu cũng dễ vướng phạm, là vì Pháp tu của Phật dạy rất nhiều, tổng cộng có đến 84 ngàn pháp môn tu , ai có duyên với pháp môn nào thích hợp thì họ tu theo pháp môn đó . Cũng như Pháp mon Tịnh đọ của chúng ta đang tuđây tuy dễ , nhưng những người không có duyên với Phật A Di Đà nên họ không tu theo , mà họ thích tu Thiền tông &#8230; đây là các pháp tự lực mặc dầu khó nhưng cũng là pháp của phật dạy chúng ta không được chỉ trách chê bai.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta khinh chê là phạm tội huỷ báng chánh pháp của Phật , cho nên Phật tử phải cẩn thận . Như vậy , nguyện 18 của Phật loại trừ người phạm tội ngũ nghịch và tội huỷ báng chánh pháp ra , tất cả chúng sanh trong 9 giới (1Bồ tát 2-Thanh văn 3-Duyên giác Độc giác 4-Thiên 5-Nhơn 6-A tu La 7-Súc sanh 8-Ngạ quỷ 9-Địa ngục). nếu niệm danh hiệu Phật lúc lâm chung thì Ngài liền tới tiếp sanh vè Cực Lạc. Như vậy, chúng ta thấy nguyện 18 này bao chứa tràn đầy lòng từ bi trong đây.Chỗ trừ tội ngũ nghịch , có nghĩa những tội đó thì Ngài không có đảm bảo . Còn các tội thông thường khácnhw 5 giới , 10 giới , 250 giới nếu có lỡ phạm mà biết hết long hướng về niệm danh Ngài lúc lâm chung thì nhất định có Ngài bảo trợ và tiếp độ , nếu không như vậy thì Ngài phải từ chức , tức là &#8220;không thủ ngôi Chánh Giác &#8220;.Có như vậy mới gọi là tha lực , là thuyền từ cứu độ chúng sanh .</p>
<p style="text-align: justify;">Có người nói rằng như vậy 10 niệm của điều nguyện 18 được vãng sanh một đời này là phải niệm lúc lâm chung , như vậy nó còn sự khó khăn cho chúng sanh. Vì lúc lâm chung là lúc sắp chết, mà chết có nhiều cách khác nhau, đâu phải chết từ từ như chết bệnh chết đau mà còn có nhiều cái chết đột tử bất ngờ như chết đuối, té núi,trúng độc,trúng gió, xe đụng,sung đạn tai nạn bất ngờ&#8230; gọi là bất đắc kỳ tử thì làm sao mà niệm kịp mười niệm,như vậykhông niệm phật được1 hoặc 10 niệm thì coi như công tu một đời này phí uổng hay sao ? Cho nên chúng ta cần luận rõ lại là điều nguyện thứ 18 này có tánh cách gấp rút , cấp cứu chụp giựt và có phần chưa an tâm. Cho nên điều nguyện này thì có phần khó. Gấp rút là gì? Là đức phật nói chỉ cần tin mộ muốn về nước ngài nhẩm mười niệm có nghĩa là gấp rút , điều nguyện này lúc đầu có vẻ rất dễ, tại vì Đức Phật không có ra điều kiện phát Bồ đề tâm hoặc tu các công đức nên nó rất là dễ . Người bình thường , người khong có tu sẵn mà chỉ phát tâm tin tưởng mến mộ muốn sanh về nước Ngài mà niệm được 10 niệm khi lâm chung liền được vãng sanh . Dầu được vãng sanh nhưng phẩm vị rất thấp, ở các bậc hạ phẩm.<br />
Vì sao, vì gấp rút nên người này không có sẵn các tu đức , không có phát tâm Bồ đề , không có niệm nhiều mà chỉ niệm được 10 niệm trúng vào văn nguyện của Phật nên được long bi nguyện của Phật tiếp độ người này với tính cách gấp rút , vì do người này chưa dự bị sẵn , hoặc chưa biết giáo lý Tịnh độ , mà đến lúc lâm chung gặp bậc thiện tri thức dạy nên chỉ tin và niệm kịp 10 niệm mà thôi. Như vậy cái nguyện 18 này dùng độ những người chưa chuẩn bị trước hoặc gặp Phật pháp quá muộn , nên y theo điều nguỵen này thì chúng ta cần phải có người trợ niệm lúc lâm chung nhắc cho mình nhớ niệm Phật , mình nương tiếng trợ niệm để niệm theo lúc cuối 10 niệm, và nương nguỵện của Phật mà được vãng sanh. Như vậy căn cứ văn nguyện 18 này thì chưa ổn , và chưa chưa yên tâm vì phải chờ kết quả giờ lâm chung , có niệm Phật được hay không mới biết được vãng sanh hay không. Chính vì lý do này mà phần nhiều người tu Tịnh độ không tin chắc mình có được vãng sanh hay không . Vì rất lo ngại đến lúc lâm chung biết có được tỉnh táo để niệm Phật hay không , mặc dầu mình có huân tập niệm Phật sẵn . Đây là một lo ngại chính đáng chung . Vì chúng ta là hạng phàm phu nghiệp chướng nặng nề nên chúng a phải lo. Trước kia tôi cũng có những ái ngại lo cho mình chỗ này. Và chính vua Vô Tránh Niệm ở kiếp quá khứ về trước lúc suy nghĩ lập nguyện Ngài cũng thấy rõ sự lo ngại của chúng sanh ở điều nguyện này (chưa an tâm) do đó Ngài mới phát nguyện tiếp điều nguyện thứ 19 để hỗ trợ nguyện 18 cho chúng ta an tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Nguyện thứ 19 lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm , tu các công đức nguyện sanh về nước tôi, đến khi lâm chung nếu tôi chẳng cùng Đại chúng hiện trước người đó, thời tôi không thủ ngôi Chánh Giác.&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Giảng: là 10 phương chúng sanh phát Bồ đề tâm , có nghĩa là cái tâm rộng lớn , tâm quyết tu cho thành Phật để cứu độ cho chúng sanh , chứ không chịu dừng để nghỉ ngơi ở địa vị Bồ tát hay La Hán, người có cái tâm chí mong mõi được thành Phật gọi là phát tâm Bồ Đề . Cái tâm này nó không có đòi hỏi ở vật chất giàu nghèo sang hèn hay than thể xấu đẹp , nên từ vua chúa đến kẻ ăn mày đều có thể phát được tâm này nên người tu niệm Phật phải phát bồ đề tâm mới đúng với lời nguyện 19 của Phật rồi tiếp tu các công đức . Các công đức là gì ? các công đức gồm có tự lợi và lợi tha . Tự lợi là mình giữ giới ăn chay đọc tụng kinh , niệm phật , lợi tha là bố thí ,cúng dường, ấn tống, thuyết giảng Chánh Pháp hướng người tu hành &#8230;tất cả các việc làm này gọi là tu các công đức . Tùy theo sức của mỗi người mà các công đức ít nhiều tùy khả năng điều kiện nhưng phải có các công đức đó. Làm các công đức đó rồi nguyện sanh về cõi nước tôi .</p>
<p style="text-align: justify;">Chữ nguyện là muốn nói long mình mong muốn về cõi Phật rồi mình phát ra cái lời văn nguyện .<br />
Ở điều 18 chỉ nói lòng ham muốn là chỉ cho trong tâm . Còn nguyện 19 nói nguyện sanh , là tâm muốn rồi phải phát nguyện ra lời nguyện , và nguyện bằng văn phát nguyện để nhắc tâm . Thân tâm hợp nhất hướng về một chỗ cho nó mạnh cũng gọi là nguyện lực , là sức mạnh của lời nguyền như trước đã giảng. Như vậy điều nguyện này nói phát Bồ đề tâm , tu các công đức rồi xoay các công đức đó thệ nguyện được sanh qua nước Cực Lạc. Đến lúc lâm chung , là đến lúc chết nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện trước người đó thời tôi không ở Ngôi Chánh Giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đến đây chúng ta mới thấy rõ sự an ổn của điều nguyện 19 này , nó có sự bảo hiểm cho chúng ta . Vì điều nguyện 19 này đầu tiên Phật ra điều kiện phải phát Bồ đề tâm , Bồ đề tâm này phải đứng đầu và bồ đề tâm này đâu có khó , vì nó đâu đòi hỏi phải có tiền mới phát được , cho nên ai có tâm là đều phát được , là ý nguyện mong sau này được thành Phật để độ chúng sanh. Nếu có tâm này rồi thì đã có bồ đề tâm.Mình phải tự kiểm lại coi mình có tâm này chưa , nếu chưa thì liền phát cho nó đúngvowis văn nguyện của Phật. Tiếp nữa là tu các công đức , như vậy ít nhiều Phật không buộc ở số lượng nhưng phải có tu các công đức mới đúng văn nguyện . Nhưng nếu ai tu công đức nhiều thì sanh phẩm cao , còn ai tu công đức ít thì sanh phẩm thấp. Mình tu công đức rồi là đã ăn khớp với văn nguyện của Phật . rồi mình dây cái công đức đó , thề nguyện sanh về nước Ngài tức cõi Cực Lạc. Chữ nguyện này tôi xin nói cho rõ là lòng mình ham mộ mong muốn , nó rạo rực ấp ủ trong lòng mình luôn hướng về đức Phật , mình mới phát ra cái thệ nguyện .<br />
Như vậy , chúng ta phải hiểu , chớ có nhiều người sơ sót lớn chữ nguyện này nên cứ đứng trước bàn phật đọc bài văn cầu sanh Tây phương và cho là mình đã có nguyện rồi , còn tâm thì không thường hướng về Tây phương mà ngược lại lo tiền của thế gian. Như vậy thuộc giả nguyện rồi, dầu cho có lòng thành trong lúc nguyện đọc , rồi sau buông ra tâm lại lo đam mê thế gian, đó là gián đoạn nguyện chứ không phải là chuyên , như vậy chưa kịp với lời nguyện 19 của Phật . Như vậy chỉ có thể gieo nhân lành về sau mà thôi , chớ chưa được độ trong đời này vì chưa nguyện thiết với Phật. Như vậy các Phật tử phải lập nguyện làm sao cho tâm mình luôn hướng về với Phật , giống như người con xa nhà nhớ quê hương , cha mẹ và luôn mong mỏi được trở về . Lòng mình phải thường hướng nghĩ như vậy mới gọi là có nguyện , đây cũng gọi là nguyện thiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tư liệu giảng của Vĩnh Minh thiền sư nói tu Tịnh độ thuộc về giáo còn có tịnh độ hay không là thuộc về người . Mà giáo lý Phật dạy rồi , ai cũng tu được nhưng tu cho nó đúng Tịnh độ thì đâu phải ai cũng có đâu. Nên có vị thiền sư hạch vấn , nếu có 10 người tu 10 người đổ , vậy sao tôi thấy nhiều người tu niệm Phật vô số mà không mấy người khi chết được thoại ứng điềm lành , được vãng sanh ? Thì Liên Mộ pháp sư trong cuốn đường về Cực Lạc của Hòa Thượng Trí Tịnh , Liên Mộ pháp sư nói: Vì tu Tịnh độ mà chưa có Tịnh Độ . cái miệng niệm Phật um sùm còn tâm thì đam mê lục dục cõi Ta bà nên kết quả không có thoại ứng điềm lành vãng sanh . Nên các người không hiểu pháp tu. Chỉ thấy người niệm Phật thì cho rằng tu Tịnh độ , nhưng tại sao lúc chết lại không có thoại ứng điềm lành vãng sanh . Nên họ sinh nghi và họ thoái tâm không tin kinh dạy của Phật. Nên hôm nay nhữ nguyện này phải lập nguyện cho đúng văn .<br />
Bây giờ tôi thí dụ cho Phật tử hiểu đúng chữ Nguyện. Cũng như có một người con vì nghĩa vụ đất nước phải tạm xa cha mẹ quê hương để thi hành nghĩa vụ . Anh ta xa quê hương nhưng lòng luôn nhớ thương cha mẹ hoặc người than yêu (bạn bè ),nhất là vào các đêm thanh vắng thao thức . Lòng chỉ mong cho mau tròn xong nhiệm vụ để trở về, chứ không thích mến ở lâu trong quân ngũ.<br />
Chữ Nguyện của Tịnh độ cũng y như vậy. Nghĩa là lòng luôn hướng về Cực Lạc , nhớ thương Phật A Di Đà như nhớ thương mẹ hiền . Tuy than sống cõi Ta bà , vì phải trở cái nợ cũ nhưng lòng không mê thích ở đây . Tâm tâm niệm niệm ấp ủ chờ ngày xong nợ trần để đoàn tụ nơi quê hương Cực Lạc .</p>
<p style="text-align: justify;">Này các Phật tử được như vậy gọi là nguyện thiết , là đúng văn ngyện 19 rồi thì đến lúc lâm chung có Ngài và Đệt tử Thánh Chúng hiện ra. Chúng ta nguyện xét cho kỹ lời văn nguyện này thì chúng ta thật là an tâm , vì không sợ chết bất đắc kỳ tử , hoặc cận tử nghiệp. Vì văn nguyện 19 này gồm có 4 phần:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Là phát Bồ Đề tâm</li>
<li>Là tu công đức</li>
<li>Là nguyện về nước Ngài</li>
<li>Lâm chung Ngài hiện ra.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Như vậy 3 phần đầu là Bổn nguyện của chúng ta tu tạo , còn thứ 4 là phần của Phật , nên nếu 3 phần đầu tat u tạo đủ thì bổn phận của Ngài cùng Đại chúng hiện ra lúc lâm chung , như vậy chúng ta đủ 3 phần của văn nguyện 19 rồi thì chỉ còn chờ phần của phật khi lâm chung Ngài hiienj ra , miễn lâm chung là có Ngài , chớ Ngài không có ra điều kiện lâm chung lành hay dữ, tốt hay xấu. Như vậy chúng ta có Bồ đề tâm tu các công đức rồi nguyện thiết rồi thì dù lân chung bằng cách nào cũng được Phật hiện thân ra tiếp dẫn. Vì nếu Phật không hiện ra ,Phật phải từ chức ngôi vị chánh giác như lời nguyện của mình. Người đời sự nhất là các chứng bệnh nan y vì một khi vướng phải thì chết . Còn người tu ngoài pháp môn Tịnh Độ thì sợ nhất là bất đắc kì tử và cận tử nghiệp. Còn pháp môn tịnh độ này nếu chúng ta tu chỉ y theo điều nguyện thứ 18 thì chúng ta vẫn sợ như thường  Nhưng đến điều nguyện thứ 19 này là có một thứ thần được trừ chứng nan y như cận tử nghiệp và bất đắc kỳ tử , vì sao vậy ?</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Phật nói lâm chung Ngài đến . Thì thí dụ chúng ta bị té cây chết hoặc trúng độc chết đột ngột &#8230;<br />
Đây gọi là bất đắc kỳ tử, có nghĩa là không biết trước kỳ chết . Không biết trước kỳ chết là ý muốn nói người phàm mình thôi , vì quá đột ngột nên mình không biết trước được . Nhưng đối với Phật thì làm sao gọi là bất đắc kỳ tử được? Vì Phật là nhất thiết chủng trí thấy biết rõ suốt quá khứ , vị lai từng mỗi chúng sanh , chừng nào chết và sanh đi đâu , Phật đều biết hết nên mình đã hành đúng nguyện 19 rồi . Nên xe co tong vô thì Phật đã hiện ra liền . Và Phật rước cái thần thức mình vãng sanh ngay lúc đó . Lúc đó chỉ còn lại cái xác vô tri . Xe tong chết thì có gì mà đau đớn mà sợ các Phật tử ? Hoặc chẳng hạn một chút nữa ta bị thuốc độc làm chết ta không hề biết nhưng Phật đã hiện ra rồi . Ta vừa hớp thuốc độc vô thì thì Phật liền hiện ra tiếp ta . Đây là thí dụ trường hợp những người nghiệp nặng phải trả bằng cách phải chết dữ như vậy. Nhưng Phật đâu có nói hiền dữ miễn hành đúng lời nguyện của Ngài thì lâm chung có Ngài tới. Vậy điều kiện quan trọng của mình không sợ cận tử nghiệp hoặc chết dữ. Mà mình chỉ sợ thiếu Bồ đề tâm tu các công đức , và lòng mình không thật sự nguyện về cõi Phật. Mình chỉ sợ mình thiếu các điều kiện đó thôi , chớ mình đủ rồi thì chết cách nào cũng không sợ. Còn cận tử nghiệp là gì? Là nghiệp ác đời trước của mình nó hiện ra giờ sắp chết , mà lúc chết đã có Phật hiện ra rồi thì cận tử nghiệp nào dám đối dầu với Phật , cận tử nghiệp là dành cho người tu pháp tự lực , vì sức tu còn yếu nên bị cái nghiệp ác của mình đời trước nó nặng hơn nên nó hiện ra lúc sắp chết để nó giật tay đôi với nghiệp hiện đời . Mà nghiệp quá khứ mạnh hơn nên nó dẫn mình bị đọa lạc. Còn chúng ta nương vào tha lực của Phật .<br />
Giờ lâm chung có Phật và thánh chúng hiện ra rồi thì nghiệp nào dám hiện ra chống phá, đối đầu với Phật. Như vậy chúng ta kết hợp 2 điều nguyện 18 và 19 lại thì chúng ta sẽ vững vàng trên đường vãng sanh chúng ta chỉ còn chờ mãn báo thân này nữa là xong , bảo đảm chết đến là được vãng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở điều nguyện 18 nói niệm 10 niệm được vãng sanh là niệm ở lúc lâm chung, mà lâm chung niệm 10 niệm chúng ta còn e ngại sợ chết bất đắc kỳ tử và sợ cận tử nghiệp. Nhưng tiếp qua điều nguyện thứ 19 đây thì chúng ta hết sợ. Vì chúng ta đã hành đúng văn nguyện 19 có Bồ đề tâm , tu công đức nguyện sanh Cực Lạc rồi, lâm chung có Phật hiện ra .Mà có Phật hiện ra thì 1 niệm, 10 đâu có khó khăn gì nữa. mà niệm 10 niệmmj là trúng cả hai điều nguyện . Như vậy là chúng ta trúng số độc đắc cả cặp , tắt hơi là qua Cực Lạc lãn đài vàng liền. Nên thật sự người tu Tịnh độ đúng pháp rồi cái chết đến với họ như người đời trúng số cả cặp vậy , mừng quá bây giờ đi lãnh . Bởi vì người tu Tịnh độ lúc chết cái mặt lại vui hơn lúc bình thường mặt mày thần sắc họ tươi rói . vì thấy Phật tới rồi làm sao hổng vui được . trăm kiếp ngàn đời trong lục đạo này bao nhiieu cay đắng nó nhầu nhúng ta , bây giờ được đức A Di Đà đến đón rước về Cực lạc vĩnh viễn không còn sinh lão bệnh tử , được đầy đủ pháp lực của Bồ tát để độ người thân kẻ oán thì hỏi làm sao mà không mừng được. Nên hôm nay tôi đã luận giảng kỹ 2 điều nguyện 18 -19 này. Các phật tử phải hành cho đúng thì không còn lý do gì để lo sợ không được vãng sanh. Có nhiều người niệm phật rất giỏi , nhưng mà chỉ biết niệm thôi , chứ không biết phát Bồ đề tâm , không tha thiết mong mỏi về với Phật nên lúc chết nào tiếc của nào thương con ,có niệm đi nữa cũng chỉ gieo phước thôi chứ làm sao có thoại ứng điềm lành thấy phật hào quang qua rước.</p>
<p style="text-align: justify;">Này các phật tử hôm nay tôi không có khỏe lắm , nhưng tôi phát hiện chỗ bảo hiểm của điều nguyện 19 này tôi rất an tâm . Tôi muốn nói ra cho những người đồng nghiệp tu hành hieur rõ để không còn phải lo sợ cận tử nghiệp và bất đắc kỳ tử nữa. Như vậy nguyên nhân của sự niệm Phật các Phật tử đã có rồi , là niệm Phật đẻ qua thế giới của Phật. Lời nguyện của Phật như biển, ai niệm trúng cái nhân nguyện của Phật là được biển thệ của đức Như Lai , nhớ cái đức từ bi nguyện lực của Phật mà tội chướng người đó được tiêu trừ nên mình niệm 10 niệm lúc lâm chung được vãng sanh còn lúc bình thời niệm nhiều thì nó tăng phần công đức nên phẩm vị vãng sanh càng cao. Nên Ngẫu Ích Đại sư nói: người được vãng sanh hay không là do nơi tín nguyện có cùng không . nếu có tín nguyện thì nhất định được vãng sanh . Còn niệm Phật làm công đức nhiều thì sanh phẩm cao , niệm Phật ít thì sanh phẩm thấp nhưng được vãng sanh hay không mới quan trọng , còn phẩm cao hay thấp không thành vấn đề. Cho nên chữ tín -nguyện trong Tông Tịnh độ các phật tử phải tạo cho có và cho kiên cố , mà cái chữ nguyện nó nắm cái vai trò chủ chốt quan trọng , ví sao vậy ? Vì trong nguyện nó bao gồm cả tín và hạnh rồi , còn tín có thể nó không bao gồm nguyện và hạnh trong đó. Vì sao ? Cũng như bây giờ cõi Cực Lạc do Phật Thích Ca giới thiệu thì cảnh Đông Phương giáo chủ của Phật dược sư cũng do đức Thích Ca giới thiệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên chúng ta tin cõi Cực Lạc thì chúng ta cũng phải tin cõi Đông Phương . Như vậy đối với Đông Phương chúng ta có tin mà không có hạnh nguyện . còn ngược lại có những chúng sanh cầu về Đông Phương họ cũng tin tây phương nhưng họ cũng không có hạnh nguyện về tây phương. Tôi nói ra để biết chữ tin nó nằm riêng rời ra, còn chữ nguyện thì không có đứng riêng rời được .như người nguyện về Cực Lạc thì đã có chữ tín thu theo rồi, chớ không tin thì nguyện đi đaau , nhờ có tin nên mới nguyện . Chữ nguyện này nó đứng chủ chốt quan trọng mà quan trọng này nó mới có sự vận hành niệm Phật theo , thành ra cái người năng nổ niệm Phật là phải biết người đó chí nguyện rất sâu mà cái nguyện này phải nhấn mạnh vào nó thì tự nhiên cái hạnh rất dễ niệm theo , chớ không phải ép niệm và có nguyện thì cái niệm mới thoải mái chớ không bị căng thẳng thần kinh. Cũng như pháp tu Thiền dung cái lý duy tâm Tịnh độ tự tánh Di Đà , họ mượn cái tên đức phật mà họ niệm để tự khai thị sáng Phật tánh của mình , họ không có chí nguyện gì với Phật hết hết, những người này tuy có niệm Phật nhưng không có mùi vị gì hết , nên nó rất căng thẳng mệt mỏi người này dầu có niệm phật được nhất tâm đi nữa thì cũng để tự khai thị tự tánh mà thôi .không có tin nguyện nên không cảm đến Phật thì không do đâu Phật trợ lực người này được. Còn chúng ta có nguyện rồi , niệm nhất tâm thì phẩm vị cao , còn nếu chúng ta không niệm nhất tâm thì phẩm vị thấp. Cho đến lúc lâm chung mà chúng ta y nguyện 19, chúng ta không niệm Phật được cũng quyết được vãng sanh .Vì nguyện 19 hoàn toàn không có bảo niệm nhưng để kết hợp nguyện 18 chúng ta phải niệm nếu kịp , còn không niệm cũng có phần bảo hiểm phần bảo hiểm của của điều nguyện 19 này. Còn nếu chỉ y theo điều nguyện 18 mà không kiêm tu theo nguyện 19 thì khi lâm chung phải niệm 10 câu niệm Phật mới được vãng sanh . Nếu không niệm kịp hoặc quên hoặc hôn mê thì coi như ở lại đường sinh tử chờ kết quả đời sau . Mà đời bây giờ đang nhằm lúc hiếp đạo đức ngày càng suy , bạo ác càng thịnh , người lành càng ít, người dữ nhiều nên nếu không quyết chí để vãng sanh đời này thì đời sau lên e khó tu hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai điều nguyện này có cái đặc biệt của nó. Như nguyện 18 dùng để cứu vớt những người tu muộn người ác lúc lâm chung mới gặp thiện tri thức dạy tu . Vì lúc cấp bách này làm sao họ tu theo nguyện 19 kịp và cần có sự trợ niệm cho họ .Còn nguyện 19 có tính cách sẵn sàng chuẩn bị và được sự bảo hiểm của Phật . Nên có hộ niệm hoặc không , thậm chí không niệm Phật kịp hoặc hôn mê cũng quyết được vãng sanh . Nên chúng ta cần phải kết hợp hai điều kiện 18 -19 và hành cho đúng như lời giảng của tôi thì nhất định sẽ được vãng sanh. Này các Phật tử , nếu các Phật tử y theo lời giảng của 2 điều nguyện 18 và19 này nói rất quan trọng và trợ giúp với nhau mà mọi người y theo 2 lời nguyện này tu là vững chắc , không có lý do nào mà không được vãng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người ở thế gian họ không có tu , mà những người gọi là quân tử , một khi họ hứa với ai thì phải giữ lời , gọi là quân tử nhất ngôn . Còn Đức Phật của chúng ta nguyện đây là tự nguyện vì lòng từ bi tràn đầy với chúng sanh , nên muốn đem chúng sanh từ cõi khổ đến cõi an vui và giáo hóa cho thành Phật , tự tâm ngài phát nguyện ra nên cái nguyện là cái mực thước đo lòng ngài , mà lòng ngài từ bi quá độ nên cây thước 48 lời nguyện này là tột đỉnh tấm lòng từ bi của ngài đối với chúng sanh bao la hải hà nên tự nguyện , tức nhiên ngài phải làm tròn cái lời nguyện của mình. Vì quân tử thế gian còn không thất hứa với ai huống chi là một vị Phật lại quan trọng là đã hứa trước chúng hội có Đức Phật của mình đã chứng minh , và ngài thành Phật 10 kiếp đã qua rồi. Trong kinh niệm Phật Ba La Mật Đức Thích Ca nói lòng từ nguyện lực của ngài sâu dày nên từ quá khứ đến nay 10 kiếp đã qua chưa từng bỏ sót một người nào ,dầu người đó có phạm vào ngũ nghịch thập ác.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều nguyện 18 nói trừ người tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp nhưng mà quán kinh nói những người phạm ngũ nghịch thập ác biết hồi tâm sám hối niệm Phật một niệm , hoặc 10 niệm Phật A DI ĐÀ liền tiếp trước .Như vậy nguyện 18 nói trừ người tạo tội ngũ nghịch &#8230;.là ý đức Phật muốn rào đón trước . Cho mình đừng có dính vào những tội này , vì ai mà vướng vào cái tội này thì khó hồi tâm sám hối niệm Phật được. Bởi vì phạm vào rồi thì cực trọng nghiệp nó hành cho người này khổ đau , đâu có yên tâm mà hồi hướng sám hối được , cho nên triệu người mà phạm tội này may ra có vài người chịu ăn năn sám hối niệm Phật. Nên đức Phật vì lòng từ bi muốn cho chúng ta được bảo đảm vãng sanh nên Ngài rào đón trước bằng cái lời trừ ra .Nhưng mà ai lỡ phạm mà chịu quay đầu thì lòng từ của ngài không bỏ .Nên kinh Ba La Mật Đức Thích Ca nói đức Di Đà chưa từng bỏ xót một chúng sanh nào dầu người đó phạm vào ngũ nghịch là cái ý này đây. Cho nên chúng ta phải tin triệt để vào lời nguyện của Phật .Chúng ta hành cho đúng lời nguyện của ngài thì chúng ta không lo gì hết. Chẳng lẽ 10 kiếp đã qua đức Phật không bỏ xót ai hết mà bây giờ Ngài lại bỏ xót mình hay sao. Nếu đức Phật bỏ xót một người nào mà người đó hạnh đúng nguyện 18-19 tức thời Ngài phải từ chức ngôi vị Chánh Giác liền .Mà chẳng lẽ vì một người mà phá hoại ngôi vị Phật được sao .Thành ra chúng ta phải yên tâm không có bị một lý thuyết nào bài bác cho chúng ta ngã lòng .Gỉa sử Đức Thích Ca có hiện hình trở lại nói ta có pháp khác tu mau thành Phật hơn , mình cũng lạy mà xin tạ từ vì con chỉ nguyện 1 lòng theo đức A di Đà mà thôi . Như vậy đến như Phật hiện ra mà ta còn không thay đổi ý chí huống là các người thế gian bài bác phá hoạiys chí ta được. Được như vậy gọi là chí nguyện kiên cố , dầu tất cả mọi người trên cõi Tam Thiên này mới đẻ ra liền niệm Phật , niệm này đêm đến 100 năm rồi chết không có thoại ứng vãng sanh . Cũng không vì đó mà chúng ta sanh nghi , tại sao? Chẳng qua họ niệm nhiều mà thiếu chí nguyện và lòng tin. Thành ra Đức Di Đà đâu có bảo chúng ta niệm nhiều , 10 niệm thôi , nhưng 10 niệm đó phải có đủ lòng tin chí nguyện trong đó. Cho đến điều nguyện 19 Ngài không có vấn đề niệm gì hết , chỉ phát Bồ Đề tâm , tu các công đức nguyện sanh về nước tôi , lúc lâm chung tôi hiện ra trước người đó, hiện trước người đó để làm chi ? Vì tiếp độ nên Ngài mới hiện ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy điều nguyện thứ 19, Phật không có đề cập đến vấn đề niệm Phật , nhưng vì hỗ trợ cho nên chúng ta cần phải niệm Phật , vì tu các công đức công đức nào bằng công đức niệm Phật ,niệm Phật là công đức lớn nhất. Cái câu lúc tôi thành Phật thập phương chún sanh tu các công đức trong đó có công đức niệm Phật rồi . Như vậy niệm Phật tùy ích nhiều chúng ta kết hợp lại điều nguyện 18 &#8211; 19 thì an toàn bảo đảm nhất. Có nhiều người không tu , họ thấy mình niệm Phật họ hù dọa niệm thì niệm chứ không chắc đâu vì giờ chết cận tử nghiệp nó mới quan trọng. Ý họ nói họ không cần niệm Phật , họ có làm các đi nữa tới giờ chết họ niệm cũng được . Còn mình niệm cho nhiều biết đâu đến giờ chết cận tử nghiệp nó lôi mình trở lại , ý họ đánh giá như vậy. Thì bây giờ nguyện 19 này có Phật bảo hiểm lúc chết nên chúng ta an tâm . Vì cận tử nghiệp nào dám đối đầu với Phật , nghiệp ngũ nghịch thập ác còn không cản được Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Người phạm tội ngũ nghịch là cái nghiệp cực mạnh mà niệm Phật còn độ được huống hồ chúng ta đã phát bồ đề tâm , tu các công đức và nguyện sanh về cõi Ngài đã trúng y lời văn nguyện 19 thì cận tử nghiệp nào dám hiện ra , bất đắc kỳ tử nào mà qua được Phật . Bất đắc kỳ tử là đối với phàm còn Phật là nhất thiết chủng trí làm sao không biết chúng sanh giờ nào chết mà biếtb rồi là Ngài hiện ra . Cho nên chúng ta phải giải cho thông, nguyện lực cho dõng mãnh , tin cho vững chắc thì chỉ còn thời gian mãn kiếp Ta bà liền sanh TỊNH ĐỘ.</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/" title="Tịnh Tông Nhập Môn">Tịnh Tông Nhập Môn</a> (0)<br /><small>Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/" title="Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát">Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát</a> (0)<br /><small>Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm ha...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p1/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1</a> (0)<br /><small>Lời người dịch 
Pháp môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô L...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/cuoc-doi-duc-phat-phu-de-tv/" title="Cuộc Đời Đức Phật ! (phụ đề TV)">Cuộc Đời Đức Phật ! (phụ đề TV)</a> (0)<br /><small>Bộ phim này là sản phẩm hợp tác của truyền hình BBC và Discovery. Bộ phim mô tả ...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/10-cau-chuyen-cua-duc-phat-thich-ca/" title="10 Câu Chuyện Của Đức Phật Thích Ca ">10 Câu Chuyện Của Đức Phật Thích Ca </a> (0)<br /><small>DOWNLOAD TOÀN PHẦN TẠI ĐÂY


Tổng số files: 74 | Tổng số size: 6.78GB
Tất cả...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/dai-nguyen-luc-thu-18-19-cua-duc-phat-a-di-da/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tịnh Tông Nhập Môn</title>
		<link>http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 04 Mar 2010 05:32:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tịnh Độ]]></category>
		<category><![CDATA[A Di Đà]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tịnh Không]]></category>
		<category><![CDATA[Vãng Sanh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=451</guid>
		<description><![CDATA[Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát sanh tử luân hồi, ra khỏi tam giới.  Ðây là một vấn đề trọng đại, là “một đại sự nhân duyên” mà Phật nói trong kinh Pháp Hoa; đức Thế tôn trong rất nhiều kinh luận Ðại thừa không kể là trên lý luận hoặc phương pháp không có chỗ nào không lấy đó làm mục tiêu tối hậu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><h1 style="text-align: center;"><span style="color: #0000ff;">Tịnh Tông Nhập Môn</span></h1>
<p style="text-align: center;"><em>Lão Pháp sư Tịnh Không giảng tại Dallas, 1996</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ngô Chân Ðộ ghi chép lại.</em></p>
<p style="text-align: center;"><em><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/ynghiatinhdo.png" rel="lightbox[451]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-452" title="tinh do" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/ynghiatinhdo.png" alt="" width="440" height="330" /></a></em></p>
<p style="text-align: justify;">Kính thưa chư vị đồng tu:</p>
<p style="text-align: justify;">Trong buổi giảng kinh ở Los Angeles và San Jose có rất nhiều vị đồng tu lại gặp tôi và nói đến chuyện công phu tu học không được đắc lực, chúng ta không thể gặt hái được những công đức và lợi ích thù thắng mà đức Phật nói trong kinh.  Nguyên nhân chánh là ở chỗ nào?  Lần này tuy thời gian chúng ta tựu hội rất ngắn nhưng tôi nghĩ trong ba ngày hôm nay chúng ta nên thảo luận về vấn đề này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>A. TẠI SAO CHÚNG TA TU THEO PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="text-decoration: underline;"> </span></p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát sanh tử luân hồi, ra khỏi tam giới.  Ðây là một vấn đề trọng đại, là “một đại sự nhân duyên” mà Phật nói trong kinh Pháp Hoa; đức Thế tôn trong rất nhiều kinh luận Ðại thừa không kể là trên lý luận hoặc phương pháp không có chỗ nào không lấy đó làm mục tiêu tối hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Phật pháp truyền đến ngày nay, y cứ theo cách ghi chép của người Trung quốc đã trải qua ba ngàn năm, và theo cách tính của các nước khác thì cũng trên hai ngàn năm trăm năm.  Pháp truyền qua thời gian dài như thế sẽ không tránh khỏi sanh ra tệ đoan.  Hiện nay là thời mạt pháp, hai ngàn năm trăm năm sau khi đức Phật Thích Ca diệt độ, căn tánh của chúng sanh trong thời đại này dĩ nhiên không giống với thời xưa vì vậy có rất nhiều kinh luận và pháp môn không phải là không tốt nhưng người hiện đại chúng ta tu học không được, thực hành không được.</p>
<p style="text-align: justify;">Y cứ theo lý luận và nguyên tắc của kinh điển đại thừa, không kể là tu học pháp môn nào, Hiển Giáo, Mật Giáo, Thiền Tông, và Giáo Hạ cũng vậy, tất cả đều phải đoạn dứt kiến tư phiền não mới có thể liễu thoát sanh tử.  Cái gì là kiến tư phiền não?  Nói một cách đơn giản ‘kiến’ là kiến giải sai lầm, cái nhìn không đúng đối với vũ trụ nhân sanh, đó gọi là ‘kiến phiền não’.  ‘Tư’ chỉ tư tưởng sai lầm và cách suy nghĩ không chính xác.  Phạm vi của ‘kiến tư’ quá rộng quá lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh luận đức Phật đem vô lượng kiến tư phiền não quy nạp vô mười loại, đây là vì để thuận tiện thuyết pháp.  Nói thiệt ra người hiện đại chúng ta không thể đoạn dứt được bất cứ thứ nào trong mười thứ kiến tư phiền não này; một thứ cũng đoạn không nổi, huống chi là mười thứ!  Nếu đoạn không nổi phiền não thì tu học cả đời cũng không thể thành tựu.  Ðây không phải là khuyết điểm của một vài người mà là căn bịnh chung của mọi người hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta thấy trong quyển ‘Niệm Phật Luận’ của Ðàm Hư đại sư, ngài nói cả đời ngài gặp được hoặc nghe đến những người tham thiền đến mức đắc được Thiền định đã là rất ít, còn người tham thiền đến khai ngộ thì không những một đời chưa gặp, mà nghe cũng không nghe đến.  Ở đây chỉ nêu lên một thí dụ để nói mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu tham thiền mà không thể đại triệt đại ngộ và minh tâm kiến tánh thì không kể là thành công; công phu đắc được thiền định có sâu có cạn, công phu cạn thì sanh đến cõi trời Sơ Thiền, Nhị Thiền; công phu sâu thì sanh đến cõi trời Tam Thiền, Tứ Thiền.  Cõi trời Tứ Thiền và Tứ Không cũng chưa thoát khỏi Thiên đạo, huống hồ những người đắc được thiền định là ‘lông phụng sừng lân’ (rất hiếm).  Ðiều này nói rõ chúng sanh trong thời mạt pháp phiền não tập khí quá nặng lại còn thêm hoàn cảnh ngoại duyên không thiện.  Cái gì ‘không thiện’?  Danh, văn, lợi, dưỡng, tài, sắc, danh, thực, và thùy (danh, văn, lợi, dưỡng, tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, thức ăn ngon, và ngủ nghỉ) đều đang mê hoặc dụ dỗ; bên trong có phiền não, bên ngoài có mê hoặc, bạn làm sao có thể thành tựu được?</p>
<p style="text-align: justify;">Huống chi trong lúc tu học, những đại đức hồi xưa có nhắc đến ‘không lão thật’ (không thiệt tình không thật thà), phân lượng của câu này rất nặng, rất nặng, ý nghĩa rất sâu rộng.  Chúng ta nghe xong không màn tới chỉ cười trừ rồi thôi, không coi trọng mà không hiểu được câu này đã nói trúng phóc yếu điểm của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao không thiệt thà?  Không tránh khỏi hai nguyên nhân, nếu nói theo kinh Phật thì là thiện căn mỏng, không có phước báo.  Nếu dùng ngôn ngữ của người hiện đại mà nói là:</p>
<p style="text-align: justify;">a.      Chúng ta chưa hiểu rõ hoàn toàn nghĩa lý trong kinh điển.</p>
<p style="text-align: justify;">b.     Chúng ta chưa nếm đủ chuyện khổ và vị đắng cay trong thế gian!</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên tu học không thành thật và làm hỏng chuyện thoát ly sanh tử trọng đại của đời mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy làm thế nào để có thể đạt được sự lợi ích thù thắng của Phật pháp?  Tu học như thế nào thì đời này chúng ta mới có thành tựu?  Ðây đều là sự mong mỏi của mỗi vị đồng tu.  Nếu chúng ta có nguyện vọng như vậy, tâm nguyện này có thiệt là rất thiết tha không?  Nếu thiệt đúng là có sự nhận thức như vậy, thiệt là có tâm nguyện thiết tha như vậy, thì trong kinh Phật gọi là ‘người giác ngộ’.  Người này thiệt đã giác ngộ!</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta còn say đắm mơ mộng trong sanh tử, qua được ngày nào hay ngày đó, lấy tâm trạng này đi học Phật, vẫn trong vô minh mê hoặc như cũ mà không tỉnh thức (giác ngộ), tu học công phu như vậy làm sao có thể đắc lực được?</p>
<p style="text-align: justify;">Những năm gần đây quý vị nghe giảng kinh, hoặc đã nghe được từ băng video, hoặc có một số viết thành sách các vị đã đọc qua, chúng ta phải bắt đầu từ chỗ nào? Nhất định phải từ ‘Tam phước, Lục hòa’.  Lục hòa  không phải chỉ dành riêng cho đạo tràng của các vị xuất gia; nếu Lục hòa chuyên dành cho đạo tràng của các vị xuất gia vậy thì các vị tại gia làm sao có thể thành tựu được?</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phải hiểu Lục hòa không phân biệt xuất gia và tại gia, cho nên nói Phật pháp là pháp bình đẳng.  Ðặc biệt là pháp môn Tịnh Ðộ, đức Phật A Di Ðà đại từ đại bi có thể làm cho chúng sanh trong chín pháp giới đều bình đẳng thành Phật, trong thời mạt pháp muốn thành tựu được thì chỉ có pháp môn này thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số những người niệm Phật có người đứng vãng sanh, có người ngồi vãng sanh, biết trước ngày giờ ra đi, không có bịnh khổ, chúng ta đều có chứng kiến tận mắt hoặc đã nghe nói đến.  Pháp môn này được gọi là ‘Dị hành đạo’ (đạo dễ thực hành).  Cơ sở căn bản tu học của pháp môn này cũng chỉ là ‘Tam phước, Lục hòa’.  Tôi nghĩ chúng ta ai cũng biết đến Tam phước, Lục hòa, ai cũng có thể nói được, nhưng đã làm được chưa?  Chưa làm được thì không có ích lợi gì hết.</p>
<p style="text-align: justify;">Mấy tuần trước tôi ở Los Angeles thuyết giảng, có một vị đồng tu lại nói với tôi là ông có ‘trì’ kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi hỏi: “Ông trì kinh gì?”</p>
<p style="text-align: justify;">Ông nói:  “Con trì kinh ‘Vô Lượng Thọ’ đã được ba ngàn biến (lần).”</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi trả lời:  “Ông không có trì kinh.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ổng hỏi:  “Như vậy nghĩa là sao?  Con mỗi ngày đều có đọc tụng mà.”</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nói:  “Ông chỉ đọc kinh, ông đọc qua ba ngàn lần, ông không có ‘trì’.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ổng hỏi:  “Thế nào mới gọi là ‘trì’?”</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi trả lời: “ ‘Trì’ nghĩa là làm được.  Những việc Phật dạy trong kinh, ông có làm được chưa?  Nếu ông chưa làm được thì gọi là ‘đọc kinh’, cho đến ‘niệm kinh’ cũng không có niệm.  ‘Niệm’ là gì?  Trong tâm ông thiệt có;  miệng có đọc mà trong tâm ông không có, phải không?”</p>
<p style="text-align: justify;">Ông nói:  “Dạ đúng”.</p>
<p style="text-align: justify;">Miệng đọc mà tâm không thiệt có thì gọi là đọc kinh, ‘niệm kinh’ còn không có niệm thì làm sao có thể nói ‘trì kinh’ được?</p>
<p style="text-align: justify;">“Tôi cử ra một câu nói trong kinh: ‘<em>Thiện hộ khẩu nghiệp, bất kế tha quá’ (Khéo giữ gìn khẩu nghiệp, đừng để ý và bàn chuyện quấy của người khác</em>) ông có làm không?”</p>
<p style="text-align: justify;">Ông cũng rất thiệt thà, lắc đầu và nói: “Con làm không được”.  Làm không được thì bạn không có ‘trì’ kinh.  Trong kinh luận Ðại thừa đức Phật nói với chúng ta ‘<em>Thọ trì đọc tụng, diễn thuyết cho người khác biết</em>’.  Thọ trì được đặt ở hàng đầu.  Bạn đã hiểu những lý luận đức Phật dạy và đã biết phương pháp tu hành, bạn có thể đem lý luận phương pháp đi thực hành được hoàn toàn trong đời sống hàng ngày, đó mới gọi là ‘thọ trì’.  Cho nên thọ trì và đọc tụng là hai chuyện khác nhau, không thể xem là giống nhau được.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi dạy những người mới học Phật, lúc ban đầu phải đem kinh niệm ba ngàn lần, mục đích để làm gì?   Ðó là dạy bạn đem những lời đã dạy trong kinh nhớ thuộc lòng, rồi trong đời sống hàng ngày lúc đối xử với người và tiếp xúc với sự việc phải hoàn toàn làm theo những lời dạy đó.  Như vậy mới gọi là ‘thọ trì’, mới có cảm ứng. Giả sử bạn không làm theo rồi nói với tôi, tôi tin không?  Tôi tin.  Tại sao tôi tin?  Sự cảm ứng của bạn được không phải từ chư Phật Bồ Tát,  mà là cảm ứng của yêu ma quỷ quái, thiệt là có cảm ứng!  Yêu ma quỷ quái gia trì bạn, giúp cho bạn tăng trưởng thêm tham sân si, giúp cho bạn tạo thêm ác nghiệp, giúp cho bạn đi đọa địa ngục A Tỳ mau hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Lăng Nghiêm đoạn sau chót đức Thế Tôn nói người học Phật có năm mươi thứ ấm ma; ma sẽ gia trì (phá khuấy), chúng ta không thể coi thường oai thần sức mạnh của ma.  Nếu tâm bạn chánh trực, hành vi ngay thẳng thì sẽ ‘cảm ứng đạo giao’ với Phật Bồ Tát.  Nếu tâm và hành vi tà vạy thì sẽ ‘cảm ứng đạo giao’ với yêu ma quỷ quái.</p>
<p style="text-align: justify;">Xã hội ngày nay rất phức tạp, tình hình trong lục đạo so với chúng ta còn phức tạp hơn.  Một người trong thời đại này muốn liễu sanh tử ra khỏi tam giới đích thật là không dễ nhưng cũng không thể xem là quá khó.  Xem là quá khó thì cũng sai lầm.  Ðích thật là có phương pháp, có con đường dẫn đến, nhứt định phải tuân theo lời dạy của đức Phật và y theo đó mà thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>B. TAM PHƯỚC</strong>:</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="text-decoration: underline;"> </span></p>
<p style="text-align: justify;"><em>1. </em><em>Hiếu dưỡng phụ mẫu</em>.  <em>Phụng sự sư trưởng. Từ tâm không sát hại sinh vật. Tu thập thiện nghiệp</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Phước thứ nhất trong tam phước là hiếu dưỡng cha mẹ.  Chúng ta đã nói rất nhiều lần rồi.  Chúng ta không niệm thuộc lòng kinh, nghĩa của kinh lờ mờ không rõ, tâm hạnh trái ngược với lời dạy trong kinh, phải nên biết đây là tội bất hiếu rất nặng, rất không kính trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Phụng sự thầy giáo.  Ông thầy đệ nhất của chúng ta, những người học Phật, là ‘Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật’.  Bổn sư dạy chúng ta học theo A Di Ðà Phật, cho nên A Di Ðà Phật cũng là ‘Bổn sư’ của chúng ta.  Trong đời sống hàng ngày chúng ta khởi tâm động niệm gì, tâm đó có giống tâm của Phật không?  Niệm đó có giống niệm của Phật không?  Tâm của Phật ra sao, niệm của Phật giống gì?  Những gì nói trong kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Ðà là chân tâm của Phật, là hình dáng của Phật. Chúng ta có thiệt tình tìm hiểu, thiệt tình tu hành và làm theo không?</p>
<p style="text-align: justify;">Tu hành là y chiếu theo tiêu chuẩn của Phật đã nói ra, đem những sự suy nghĩ, tư tưởng, và cái nhìn sai lầm của chúng ta trong đời sống hàng ngày sửa đổi cho đúng trở lại.  Ðó gọi là ‘tu hành’.  Nếu chúng ta hàng ngày còn giả vờ để làm giống như một người học Phật mà trên thực tế thì đang gạt mình và gạt người, như thế nhất định sẽ có cảm ứng với ma;  Phật sẽ không gia trì bạn mà ngược lại ma sẽ gia trì bạn.  Dụng ý của ma gia trì ở chỗ nào?  Dụng ý ở chỗ muốn tiêu diệt Phật Pháp, làm chướng ngại Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Không những trong đời này bạn không được tự tại, không được như ý, tương lai quả báo còn đáng sợ hơn nữa.  Chúng ta có ý thức đến hay không?  Chúng ta có cảnh giác đến hay không?  Cho nên tôi khuyến khích các vị đồng tu cơ duyên của chúng ta thiệt là vô cùng thù thắng, trong đời này mất đi thân người mà đọa vào ba đường ác (tam đồ) thì rất đáng tiếc, nói khó nghe một chút thì thiệt là quá oan uổng.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên cơ sở của Phật Pháp, căn bản nhất của các thứ căn bản là ‘hiếu kính’.  Ðem hiếu kính triển rộng ra đến hiếu kính tất cả chúng sanh, đây là Phật Pháp.  Nếu quả nhiên có thể làm được hiếu kính tất cả chúng sanh, thì xin chúc mừng bạn đó, bạn không những vượt ra khỏi luân hồi, bạn còn thoát ra mười pháp giới luôn.  Vì chỉ có Pháp Thân Ðại Sĩ mới có thể hiếu kính tất cả chúng sanh được một cách chân thật.  Kinh Hoa Nghiêm có nói Bồ Tát Viên Giáo Sơ Trụ trở lên mới làm được.   Bởi vậy không thể không phát tâm; phát tâm rồi phải hết sức nỗ lực thực hiện, phải làm cho bằng được.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các hành vi, tội nghiệp nặng nhất là nghiệp sát sanh, cho nên trọng tâm của các giới luật tổng hợp của Phật dạy cho chúng ta ‘từ tâm không sát hại sanh vật’. Trong nhà Phật thường nói: ‘<em>Lấy từ bi làm căn bản, lấy phương tiện làm đường lối </em>’.  Phải vun bồi tâm từ bi, tuyệt đối không được sát hại và không được làm tổn hại tất cả chúng sanh.  Không có tâm từ bi không thể học Phật; làm não hại tất cả chúng sanh nhất định sẽ đem đến rất nhiều oán thù, những mối oan gia và chủ nợ liên tục báo đền lẫn nhau không khi nào dứt được.</p>
<p style="text-align: justify;">Người thức tỉnh (giác ngộ) tuyệt đối không kết oán thù với chúng sanh.  Người kết oán thù với chúng sanh đều vì họ còn mê hoặc điên đảo và bị vô minh phiền não trói buộc.  Mười nghiệp thiện là nền móng căn bản của hành môn (phương pháp tu hành), chúng ta phải đem thập thiện nghiệp áp dụng trong đời sống sanh hoạt thường ngày, noi theo những tiêu chuẩn dạy trong kinh luận, phải từ cơ sở này mà bước vào cửa Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2. Thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới, không phạm oai nghi.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Bước vào cửa Phật chuyện đầu tiên phải làm là thọ trì tam quy y.  Tam quy y là điều Phật dạy để chúng ta thoát ly lục đạo luân hồi, là mục tiêu phương hướng dẫn đến bồ đề (giác ngộ) niết bàn, mục tiêu phương hướng này được gọi là ‘Tam Bảo’.  Tam Bảo gồm có: ‘Giác, Chánh, và Tịnh’.  Trong bất cứ lúc nào cũng giữ gìn được cái tâm giác ngộ của mình, luôn luôn giác mà không mê.  Chúng ta từ trước đến nay mê mà không giác bây giờ thay đổi ngược lại nên gọi là ‘quay lại’ (hồi quy).  Quay  ngược lại phải quy y (nương vào) ‘Giác mà không mê’.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðức Phật dạy chúng ta từ trong sự hiểu biết (tri kiến), sự suy nghĩ, và cái nhìn sai lầm quay ngược lại, đi theo sự hiểu biết chân chánh (chánh tri chánh kiến).  Sự hiểu biết thế nào mới gọi là chánh?  Chư Phật Bồ Tát tuyệt đối không nói ‘Tri kiến của ta mới là chánh tri chánh kiến, tri kiến của các vị đều là tri kiến sai lầm’.  Không có Phật Bồ Tát như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Phật Bồ Tát nói với chúng ta: ‘<em>Tri kiến tương ứng với tự tánh là chánh tri chánh kiến, tri kiến đối nghịch với tự tánh là tà tri tà kiến</em>’.  Nói theo cách này thì chúng ta mới đồng ý.  Tại vì chúng ta chưa minh tâm kiến tánh, phải thừa nhận cái nhìn và sự suy nghĩ của chúng ta còn sai lầm, cho nên lúc mới bắt đầu học không thể không nương nhờ vào Phật.  Nhưng Phật nói rất hay, Phật không dạy chúng ta phải vĩnh viễn nương nhờ Phật, chỉ nương nhờ vào Phật trong vòng một thời gian ngắn, không dạy chúng ta ỷ lại lâu dài.  Phật dạy chúng ta tự mình phải minh tâm kiến tánh, kiến tánh rồi thì không cần ỷ lại Phật nữa.  Nhưng lúc chưa kiến tánh chúng ta không nương nhờ vào Phật thì không có phương pháp nào hay hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Minh tâm kiến tánh đâu có dễ vậy sao?  Phải đoạn phiền não, phải phá phiền não chướng.  Phiền não làm chướng ngại tự tánh của chúng ta, bạn còn phiền não thì tuyệt đối không thể kiến tánh, phải còn học pháp môn.  Học pháp môn phải phá sở tri chướng.  Sở tri (sự hiểu biết của mình) cũng làm chướng ngại tự tánh.  Phá trừ hai thứ chướng ngại này rồi mới minh tâm kiến tánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện này nói thì dễ mà làm thì quá khó.  Cho nên đức Phật dạy những phàm phu đầy dẫy nghiệp chướng và căn tánh ám độn như chúng ta phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Ðộ; phương pháp này tuyệt diệu quá đi thôi!  Có thể tạm thời không cần đoạn kiến tư phiền não mà vãng sanh Tây phương Tịnh Ðộ; cũng không cần tu tập vô lượng pháp môn, chỉ cần có đầy đủ tín, nguyện, và hạnh thì đều có thể vãng sanh.  Sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới thấy được đức Phật A Di Ðà, tu học theo Phật, rồi mới đoạn phiền não và học pháp môn, như vậy chúng ta mới có thể được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó thọ trì tam quy, chúng ta phải quy y đức Phật A Di Ðà, quy y kinh điển Tịnh Tông.  Kinh điển Tịnh Tông hiện nay chỉ có năm quyển kinh và một quyển luận.  Bạn quy y năm kinh một luận thì rất tốt; nếu chê nhiều quá thì chọn một thứ (bất kỳ thứ nào cũng được) trong năm kinh và một luận.  Có người sẽ hỏi, một thứ không phải là quá ít hay sao?  Chúng ta thấy trong ‘Vãng Sanh Luận’ và ‘Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục’, từ xưa đến nay có người cho đến một bộ kinh cũng không biết, trọn đời chỉ niệm câu ‘A Di Ðà Phật’, họ cũng có thể đứng vãng sanh hoặc ngồi mà vãng sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một câu danh hiệu cũng có thể thành tựu, huống chi là một bộ kinh?</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này chúng ta ở có thể tin được, giống như trong kinh Kim Cang có nói ‘<em>Tín tâm bất nghịch</em>’ thì chúng ta mới có thể thành tựu.</p>
<p style="text-align: justify;">Tăng bảo, chúng ta quy y Ðại Thế Chí và Quán Thế Âm Bồ Tát.  Trong Tịnh Tông, chúng ta quy y Tam Bảo được thực hiện trên ‘sự tướng’.  Ðại Thế Chí tượng trưng cho lý trí, không phải cảm tình.  Quán Thế Âm tượng trưng cho từ bi.  Cho nên kêu bạn quy y Tăng là kêu bạn quy y tánh từ bi của lý tánh mà không phải tánh từ bi của cảm tình.  Từ bi của cảm tình rất dễ làm hỏng việc.  Từ bi phải dùng lý trí làm cơ sở, như vậy mới gọi là thọ trì tam quy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể giải thích chữ giới trong ‘Cụ túc chúng giới’ là những lời răn dạy của đức Phật trong kinh điển, chúng ta đều phải giữ lấy và làm theo.  Giới không chỉ là một vài giới điều nhất định, nếu bạn coi những lời răn dạy trong kinh điển một cách kỹ lưỡng, những giới điều này đều bao gồm ở trong đó chứ không thiếu sót.  Lại từ trong cơ sở này khế nhập vào pháp môn của Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ nhất của Bồ Tát là phát tâm rộng lớn, phát tâm Bồ Ðề.  <em>Muốn vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới các vị đồng tu phải ghi nhớ kỹ càng, điều kiện vãng sanh mà Phật nói trong kinh có ‘hai câu tám chữ’.  Trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh của kinh Vô Lượng Thọ, không kể là bậc Thượng, bậc Trung, hoặc bậc Hạ đều giống nhau ở chỗ ‘PHÁT BỒ ÐỀ TÂM, NHẤT HƯỚNG CHUYÊN NIỆM’.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Cái gì là Bồ Ðề tâm?  Ðó là tâm muốn độ chúng sanh, ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’; nếu bạn còn chán ghét một chúng sanh, bạn còn thù oán chúng sanh đó, thì bạn có thể đến Tây phương Cực Lạc thế giới không?  Nói cho chư vị biết: ‘Không thể đến được’.  Ðừng nói một ngày niệm đến mười vạn câu Phật hiệu, niệm một triệu danh hiệu Phật, bạn cũng không vãng sanh được.  Tại sao vậy?  Bạn không có Bồ Ðề tâm, điều này không thể không chú ý!</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc trước thầy Lý thường nói người đời nay niệm Phật, một vạn người niệm Phật chỉ có hai ba người vãng sanh.  Không phải họ không tinh tấn, xâu chuỗi niệm Phật không bao giờ rời khỏi tay hết, miệng suốt ngày niệm ‘A Di Ðà Phật’, ‘A Di Ðà Phật’ không ngừng.  Tại sao họ không thể vãng sanh?  Vì họ không có Bồ Ðề tâm, không phù hợp tiêu chuẩn để vãng sanh!  ‘Nhất hướng chuyên niệm’ họ làm được, nhưng ‘phát Bồ Ðề tâm’ họ chưa làm được thì không thể vãng sanh!</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm qua Quán trưởng có nói chuyện với chúng tôi về Khổng Lão Phu Tử; đức học của ngài Khổng Tử có từng giai đoạn, từng giai đoạn thật rõ ràng, đây là gương tốt cho chúng ta noi theo.  ‘Tam thập nhi lập’,  ba mươi tuổi mới lập, lập gì vậy?  Lập chí hướng.  Nhà Nho nói ‘lập chí’ là giống chúng ta nói ‘phát tâm’ trong nhà Phật. Ðức Khổng Tử lập chí là lập chí học tập, cả đời dồn sức vào sự học vấn.  Chúng ta hôm nay lập chí phổ độ chúng sanh, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, chí chúng ta lập là chí này.  Tứ hoằng thệ nguyện là lập chí, chúng ta thiệt đã lập chưa?</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà Nho nói nếu không lập chí thì không có thành tựu gì có thể đề cập đến, tại sao vậy?  Bạn không có phương hướng, không có mục tiêu, cho dù nỗ lực thêm nữa cũng sẽ không có kết quả.  Pháp xuất thế gian so với pháp thế gian còn phải nghiêm khắc hơn nhiều, nếu bạn không phát tâm thì làm sao được?  Cho nên thứ nhất phải phát nguyện, phát Bồ Ðề tâm tức là phát đại nguyện.  Quá trình học tập của đức Khổng Tử đáng làm gương cho chúng ta noi theo.</p>
<p style="text-align: justify;">‘Tứ thập nhi bất hoặc’ nghĩa là bốn mươi tuổi không còn bị mê hoặc nữa.  Không bị mê hoặc là không bị cảnh giới bên ngoài lôi cuốn, thu hút, mê hoặc nữa.  ‘Ngũ thập nhi tri thiên mạng’ nghĩa là năm mươi tuổi thì hiểu rõ nhân duyên quả báo.  Biết được tất cả chúng sanh không ai là không do nhân duyên quả báo tuần hoàn nối tiếp nhau mà tạo nên những hiện tượng như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">‘Lục thập nhi nhĩ thuận’.  Sáu chục tuổi tâm an định rồi, tâm thanh tịnh hiện ra.  Kinh Kim Cang có nói: ‘<em>Tín tâm thanh tịnh tắc sanh thật tướng</em>’.  Trí huệ chân thật hiện ra.  Thiền tông Lục Tổ đại sư trong Pháp Bảo Ðàn Kinh có nói ‘<em>Nhược chân tu đạo nhân, bất kiến thế gian quá’ (</em>tạm dịch<em>: Nếu là người tu đạo chân thật thì không thấy lỗi lầm của người khác trong thế gian</em>).  Nhĩ thuận là không thấy sự lỗi lầm của người trong thế gian.  Trong kinh Hoa Nghiêm Thiện Tài đồng tử trong năm mươi ba lần tham vấn cũng không ‘kiến thế gian quá’, đó cũng là cảnh giới của ‘nhĩ thuận’.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðến bảy mươi tuổi công phu thành tựu rồi tâm phải như thế nào?  ‘<em>Tùy tâm sở dục nhi bất du củ’ (</em>tạm dịch<em>: Tùy sự ưa thích trong tâm tất cả đều được nhưng không vượt quá khuôn phép, quy củ</em>).  ‘Củ’ là gì?  Ðối với pháp tánh hoàn toàn tương ứng gọi là ‘củ’, tuyệt đối không trái ngược với pháp tánh.  Tùy tâm đều được nhưng những thứ này tự nhiên hợp tình, hợp lý, và hợp pháp.  Ðiều này thiệt là tuyệt diệu!  Chúng ta trong nhà Phật gọi điều này là ‘đại tự tại’.  Ðời sống tự tại, công việc tự tại, đối xử với người, với sự vật cũng đều tự tại.  Ðây là chỗ chúng ta thường nói ‘lợi ích chân thật’, ‘chân thật thọ dụng’.   Ngài Khổng Tử đã đạt được, người học Phật nói đúng ra phải đạt được một cách nhanh chóng và rốt ráo hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>3.  Phát Bồ Ðề tâm, Tin sâu nhân quả, Ðọc tụng Ðại thừa, Khuyến tấn hành giả.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ðiều cuối cùng là ‘Tin sâu nhân quả, Ðọc tụng Ðại thừa’.   Hiện tượng y chánh trang nghiêm trong mười pháp giới là quả báo;  quả báo rất phức tạp, nếu nói đến trình độ phức tạp thì sự phức tạp của nhân phải có tỷ lệ tương đương với quả.  Trong những nhân quả phức tạp như vậy chúng ta phải cẩn thận để ý, thời thời khắc khắc luôn luôn cảnh giác tuyệt đối không tạo ra nhân ác.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc ban đầu khi tôi tiếp xúc tới Phật pháp, chỗ khâm phục đức Phật nhất là ngài chỉ dạy bạn tự lo cho mình [nhìn lỗi của mình], mà không dạy bạn nhìn [lỗi] người khác.  Chỗ này chúng ta khâm phục đến sát đất, những giáo giới mà đức Phật dạy đều nhằm răn dạy một cá nhân của mình mà không dạy người khác.  Nếu chúng ta không từ chỗ này đi vào cửa Phật, bạn muốn đạo nghiệp thành tựu sớm hơn thì tuyệt đối không thể nào làm được.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì trung tâm của sự tu học Phật pháp là thiền định và tâm thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bất cứ lúc nào cũng lo nghĩ đến hoàn cảnh bên ngoài, phân biệt đến hoàn cảnh bên ngoài, bạn thử nghĩ coi khi nào bạn mới đắc được định?  Vĩnh viễn không hy vọng có ngày đắc được.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn muốn thiệt sự đắc đuợc thiền định, thành tựu được tâm thanh tịnh, phải hoàn toàn không theo đuổi sự việc và cảnh giới bên ngoài, hãy quay vào trong tâm mà dụng công, đây là chỗ cao siêu của Phật Pháp.  Cho nên Phật Pháp đuợc xưng là ‘Nội Học’, là dạy bạn không hướng ra bên ngoài mà theo đuổi và tìm cầu.  Cảnh giới bên ngoài, khi gặp cảnh thuận hoặc gặp cảnh nghịch cũng vậy, gặp người tốt hoặc gặp người xấu cũng vậy, bạn cũng đừng để ý đến.  Chúng ta dùng tâm chân thành để đối xử với sự việc bên ngoài; cảnh thuận cảnh nghịch cũng như nhau, người xấu người tốt cũng như nhau, nhất định không dùng hai tâm niệm khác nhau.  Bạn có thể dùng một tâm chân thành này để đối đãi với người thì người tốt khen ngợi bạn, người xấu cũng khen ngợi bạn vì người xấu được bạn cảm hóa nên họ sẽ dứt ác tu thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Lục Tổ nói một câu rất hay: ‘<em>Nếu là người tu đạo chân thật thì không thấy lỗi lầm của người khác trong thế gian</em>’.  Nếu thường thấy lỗi lầm của người khác thì mình sẽ thất bại.  Ngày nay chúng ta mắc phải một căn bịnh rất trầm trọng, mỗi ngày từ sáng đến tối đều nhìn thấy lỗi lầm của người khác nhưng không thấy lỗi của mình. Ðến khi nào chúng ta có thể không thấy lỗi người khác mà chỉ thấy lỗi của mình thì chúng ta sẽ thành công.  Công phu của bạn sẽ đắc lực, bạn sẽ gặt hái được sự lợi ích chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Người khác làm cái gì và làm như thế nào cũng có nhân quả riêng của họ.  Quan trọng là nhân quả của mình, nhân quả của người khác chúng ta không thể nhận chịu thay thế cho họ mà cũng không thể giúp họ thay đổi.  Hơn nữa trong thời đại hiện nay, ai chịu nói lỗi lầm của người khác?  Người xưa cũng không nói;  chúng ta đọc trong sách Lễ Ký viết hồi thời nhà Hán xem người nào chịu nói ra lỗi lầm của bạn?  Chỉ có hai người, một là cha mẹ của bạn, hai là thầy giáo của bạn.  Họ có trách nhiệm nói ra lỗi lầm của bạn mà bạn không phản đối lại.  Bạn bè nếu nói ra sẽ có sự xích mích thù hận lẫn nhau rồi sẽ tìm cách trả thù.  Cho nên không ai chịu nói ra lỗi lầm của người khác hết.</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Phật Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp thường dùng cách nói khéo mà nhắc nhở, để cho chúng ta nghe rồi suy nghĩ xem tự mình có phạm lỗi đó hay không.  Nếu có thì mau mau sửa đổi, đó là ‘nếu có sai thì sửa đổi, nếu không thì khuyến khích ngăn ngừa’.  Chư Phật Bồ Tát không chỉ trích lỗi lầm của chúng ta mà chỉ nói một cách gián tiếp khiến cho chúng ta tự mình phản tỉnh, tự mình giác ngộ.  Tâm của họ là tâm thanh tịnh, nên những lỗi lầm đề cập trong kinh luận thực ra là Phật không thấy lỗi lầm của bất cứ một người nào; đây là sự cao siêu thâm áo của những phương pháp răn dạy của Phật, tất cả đều không đánh mất tâm thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phải từ những điểm này mà thể hội, mà phản tỉnh, mà hiểu được lòng từ bi chân thành của chư Phật Bồ Tát, vô cùng từ bi; chỉ cần chúng ta nỗ lực, y theo lời dạy mà tu hành, bạn có thể không để ý đến hoàn cảnh, tự nhiên có Phật hộ niệm, thần Hộ pháp sẽ lo cho bạn; bạn không cần phải lo có người đến phá hoại hoặc gây ra chướng ngại.  Nếu không như vậy thì người khác chưa đến phá khuấy mà ngược lại chính bạn đã gây chướng ngại cho mình.  Bạn nghĩ đến những chuyện này để làm gì? Ðó chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước phá hoại bạn trước.  <em>Ðây là lý do tại sao</em> <em>chúng ta phải nhìn thấu, phải buông xả</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Phải tin sâu sự hộ niệm của chư Phật; hộ niệm nghĩa là tất cả chư Phật Như Lai thường thường tưởng nhớ đến bạn, thường lo lắng đến bạn.  Ðây là sự thật không phải giả.  Thiện thần hộ pháp tôn kính, khâm phục, và ủng hộ bạn.  Nếu lúc nào bạn cũng đề phòng cái này, đề phòng chuyện kia, Phật sẽ không hộ niệm cho bạn nữa, thần Hộ pháp cũng sẽ không chiếu cố đến bạn nữa.  Bạn suy nghĩ xem nên làm như thế nào, sự thiệt thòi này rất lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên hai chữ ‘tin Phật’ không phải dễ.  Tin Phật thì đâu còn những thứ vọng tưởng này nữa?  Ðâu còn những thứ âu lo, bồn chồn, nhớ nhung nữa?  Tất cả đều dẹp hết, như vậy mới có thể nhất tâm hướng về đạo.  Ðạo ở đâu vậy?  Ðạo tức là sự sanh hoạt thường ngày, tức là ăn cơm mặc áo.  Trong kinh Kim Cang đoạn mở đầu có viết: ‘<em>Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đắp y, cầm bình bát, đi vào thành Xá Vệ khất thực</em>’.  Ðó là ‘<em>đạo</em>’.  Từ đó mới biết, sự sanh hoạt hàng ngày không có thay đổi, công việc làm hàng ngày cũng không thay đổi, tiếp đãi người, xử lý công việc, tất cả những thứ này đều tiếp tục bình thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Phật Bồ Tát không giống người thường ở chỗ nào?  Người thế gian trong mọi hoàn cảnh lúc khởi tâm động niệm đều là phân biệt chấp trước, đi ngược lại với đạo.  Chư Phật Bồ Tát trong sanh hoạt thường ngày không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức.  Ðời sống của họ tự tại, sự xã giao của họ cũng tự tại, tất cả đều tự tại và viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðại tự tại, đại viên mãn này đều từ tâm thanh tịnh sanh ra.  Kinh Kim Cang có nói: ‘<em>Tín tâm thanh tịnh tắc sanh thật tướng</em>’, sanh thật tướng trí huệ bát nhã;  thật tướng trí huệ bát nhã đã hiện ra, làm sao không được tự tại chứ?  Làm sao không viên mãn chứ?  Tất cả có được đều do tâm thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên trong mọi thời mọi chỗ người biết tu đều luôn luôn trụ ở trong (giữ) tâm thanh tịnh.  Ðó cũng giống như đoạn trước có nói đến tam quy: Giác, Chánh, Tịnh. Luôn luôn giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm; niệm Phật như thế cầu sanh Tịnh Ðộ, làm sao không vãng sanh được chớ?</p>
<p style="text-align: justify;">Những duyên sự ở thế gian, trong kinh Phật có nói: ‘<em>Khả đắc vi thế gian sự, bất khả đắc vi thế gian ý’ (</em>tạm dịch<em>: Có thể làm chuyện thế gian, nhưng đừng nên có ý tưởng của thế gian</em>).  Hai câu này nói rất hay, chuyện thế gian có thể làm.  Trong kinh Hoa Nghiêm có nói: ‘<em>Lý sự vô ngại, sự sự vô ngại</em>’.  Chướng ngại ở đâu?  Chướng ngại ở chỗ ‘thế gian ý’.  Thế gian ý là gì?  Là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tất cả những thứ này bạn đừng nên có.  Ý nghĩa của hai câu này rất sâu, rất rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðức Thế Tôn thuyết pháp 49 năm, giảng kinh hơn 300 hội.  Ngài đã nói những gì?  Tức là nói những thứ này, ngàn câu vạn chữ nói không hết; đối với người, đối với sự việc, đối với sự vật mà tôi ‘tưởng’ như thế nào, có ‘tưởng’ như thế nào là sai rồi, tưởng là đã rơi vào trong ý thức; tưởng ở đây là vọng tưởng.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy thì bạn sẽ hỏi có người nào mà không có ý tưởng như vậy?  Rất tiếc là bạn chưa gặp qua, bạn đã gặp toàn là phàm phu, cho nên bạn đem sự việc này coi rất bình thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao chư Phật Bồ Tát không có cách suy tưởng như vậy?  Chư Phật Bồ Tát biết được ‘vạn pháp giai không’ (tất cả pháp đều là không).  Trong kinh Kim Cang có nói ‘<em>Tam tâm bất khả đắc’ (ba thứ tâm không thể có được).  Năng tưởng (những gì có thể tưởng) được đều là không;  ‘</em><em>Chư</em><em> pháp duyên sanh, duyên sanh tánh không’ (tạm dịch: tất cả pháp đều do nhân duyên mà sanh ra, bản tánh của nhân duyên sanh là không)</em>.  <em>Sở tưởng (đối tượng để tưởng) đều là không</em>.  Như thế họ còn tưởng cái gì nữa?  Không tưởng nữa!  Tuy không tưởng nhưng lúc đối phó giải quyết công việc đều có thể làm được rất chu đáo.  Họ làm sao có thể làm chu đáo như vậy?  Ðó là nhờ trí huệ đã phát sanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nêu ra một thí dụ, các bạn xem những lời Phật nói trong kinh điển có hay không?  Rất có thứ tự, ý nghĩa rất mạch lạc, một chút cũng không rối loạn. Không kể là nói lý hay nói sự, câu nào cũng đều là đạo.  Ðức Phật có bao giờ khởi lên một ý tưởng: ‘Hôm nay tôi phải giảng cách nào đây?’  Không có! Không khởi tâm, không động niệm, hoàn toàn thuận theo tự tánh, từ trong tâm tánh tự nhiên tuôn trào ra.  Sự việc là như vậy đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta khởi tâm động niệm mãi, rốt cục rồi cũng đều thiếu sót đủ thứ, nói như thế nào đi nữa cũng không lưu loát bằng người khác, chữ nghĩa viết làm sao cũng không bóng bảy bằng người khác.  Cho nên học Phật phải học chỗ không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, và không chấp trưóc.  Tất cả dùng tâm chân thành, tâm chân thành tự nhiên sẽ sanh ra trí huệ, tự nhiên được chư Phật gia trì.  Gia trì ở đây nghĩa là chư Phật hộ niệm lo lắng cho.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm chân thành là tâm Phật, tâm bạn cùng tâm Phật giống nhau;  tứ hoằng thệ nguyện là giống với nguyện của chư Phật.  Tâm nguyện giống nhau, đức tâm giống nhau, chúng ta thể hội ý nghĩa này được chưa?  Trong sanh hoạt thường ngày có thể làm được mấy phần?  Ðây là lý do tại sao chúng ta tu hành công phu không được đắc lực, không thể cải thiện được đời sống sanh hoạt của chúng ta.  Nguyên nhân là ở chỗ đó!</p>
<p style="text-align: justify;">Phản tỉnh và kiểm điểm kỹ càng lại mới biết chúng ta đã làm sai.  Chúng ta hôm nay tùy thuận theo phiền não, tùy thuận theo tập khí (thói quen).  Phiền não là tham, sân, và si, chúng ta tùy thuận những thứ này.  Khi mắt thấy màu sắc, tai nghe âm thanh, nếu hợp ý thì khởi tâm tham, khởi tâm ngạo mạn lên; ngược lại nếu không vừa ý thì nổi tâm sân giận lên; tất cả đều là ngu si!</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên bên ngoài hình như có học Phật, nhưng thực ra khi đối xử với người, tiếp xúc với sự vật, khi khởi tâm động niệm một tí gì cũng không sửa đổi hết.  Chữ ‘thọ trì’ trong kinh Phật dạy, chúng ta không những không làm được, không những không hiểu nghĩa của hai chữ này, lại còn hiểu sai nữa!  Chúng ta cứ tưởng là mỗi ngày đem kinh ra đọc một lần thì kể là đã ‘thọ trì’, bạn nói như vậy là sai đến mức nào rồi!</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu muốn công phu được đắc lực, thật tình mà nói, công phu đắc lực tức là cải thiện đời sống của chúng ta; không những cải thiện đời sống chúng ta hiện nay, mà còn cải thiện đời sau nữa; ý nghĩa này rất sâu rộng.  Y theo cách sống hiện nay của chúng ta, dựa trên những gì Phật nói trong kinh điển Ðại thừa và Tiểu thừa, khi chúng ta đã mất đi thân người, nếu muốn có được lại thân người rất khó, rất khó! Mất thân người rồi sanh đi đâu?  Phần đông là đọa vào ba đường ác hết.</p>
<p style="text-align: justify;">Làm sao biết được đọa vào ba đường ác?  Chỉ cần nghe người ta thường nói một câu thì hiểu ngay, câu nói gì vậy?  ‘Chết đi làm quỷ!’  Mọi người đều nghĩ là chết rồi thì đi làm quỷ.  Chưa bao giờ nghe nói chết đi trở lại làm người, chỉ nghe nói chết đi làm quỷ mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật nói với chúng ta một chân lý ‘<em>Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh’ (Tất cả các pháp đều do tâm tưởng sanh ra</em>).  Mọi người nghĩ là chết đi đều làm quỷ hết; bạn có cái ý tưởng này, có cách suy nghĩ như vậy, thì bạn nhất định sẽ đi làm quỷ.  Có được mấy người nghĩ rằng sau khi chết trở lại làm người hoặc là sanh lên trời, thành Phật thành Bồ Tát; cách nói này rất ít khi nào nghe đến!  Luôn luôn nghe nói chết đi làm quỷ thôi.  Chúng ta đừng tưởng câu nói này rất bình thường chưa chắc là đúng. Thật ra câu nói này rất đúng và rất bình thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả các pháp đều do tâm tưởng sanh ra.  Kinh Hoa Nghiêm có nói: ‘<em>Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’ (</em>tạm dịch<em>: Từ tâm hiện ra, từ thức biến ra</em>).  Ðây cũng giải thích rõ lời của Phật nói rằng người chết đi rồi muốn được thân người trở lại rất khó.  Hơn nữa phải y theo nguyên tắc trong kinh Phật nói, đời sau muốn được thân người trở lại nhất định phải làm tròn năm giới.  Năm giới cũng giống như ‘ngũ thường’ trong Nho Giáo, nội dung cũng giống như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngũ thường là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.  Nhân là nhân từ, bạn có làm được không?  Ðối với người với vật bạn có nhân từ không?</p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa là đối với người, với sự việc, bạn có tận tâm làm hết nghĩa vụ chưa?  Tuy là có nhận tiền công nhưng không coi trọng mà nghĩ đó đều là phận sự công tác của mình, mình phải tận tâm tận lực đi làm cho đàng hoàng.  Ðây là đạo nghĩa, không phải dựa trên tiền công mà mình nhận được, nếu tiền nhiều thì làm nhiều một chút, tiền ít thì làm xong là được rồi.  Người như vậy không có nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ, giữa người với người phải dùng lễ để đối xử với nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Trí là lý trí, không dùng cảm tình để xử sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Tín là tín dụng.  Trong chữ tín quan trọng nhất là ‘không gạt mình, không gạt người’.  Tự mình gạt mình là làm trái với lương tâm.  Như tục ngữ thường nói ‘không có lương tâm’.  Nếu không có lương tâm thì làm sao có sự tin dùng được?  Ở bên trong thì làm trái với lương tâm, bên ngoài thì dùng trăm phương ngàn kế để gạt người.</p>
<p style="text-align: justify;">Phạm năm thứ nói trên thì bạn không được thân người nữa.  Nếu bạn làm tròn được năm điều này, tự mình không hổ thẹn với lương tâm, thì đời sau sẽ được thân người trở lại.  Chúng ta coi người trong xã hội hiện nay rồi tự mình xét lại, quan trọng nhất là phải tự mình phản tỉnh, mình có làm tròn hết không?  Mình đời sau có được thân người trở lại hay không?  Nếu không có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì đời sau nhất định phải đọa vào ba đường ác!</p>
<p style="text-align: justify;">Ðoạn trước có nói phần đông người ta chết rồi đều đi làm quỷ.  Trong sáu nẻo luân hồi không đi đường khác mà phải chọn đường ngạ quỷ.  Vì có cách nói như vậy nên cũng có đạo lý của nó.  Ðiều kiện của đường ngạ quỷ là tâm tham: tham danh, tham lợi, tham tài, tham sắc, tham nhiều thứ lắm; chỉ cần tâm tham nặng đều là nghiệp nhân của đường ngạ quỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm sân giận và đố kỵ nặng là nghiệp nhân của địa ngục.  Không có trí huệ, không thể phân biệt chánh và tà, chân và vọng, thiện và ác là nghiệp nhân của súc sanh. Tham, sân, và si là nghiệp nhân của ba đường ác.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phản tỉnh thử xem chúng ta có tham, sân, si không?</p>
<p style="text-align: justify;">Ý niệm tham, sân, si này nặng hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ý niệm này nặng, bạn phải cẩn thận cảnh giác đi, tương lai là một màu đen tối!  Chúng ta muốn niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, nhất định phải diệt trừ tham, sân, si, phải chuyên cần tu tập ba thứ tư lương là tín, nguyện, hạnh.  Nếu y theo lời dạy mà tu hành, đời này chúng ta sẽ không bỏ phí qua.  Nhân duyên của chúng ta trong đời này thật là rất thù thắng, có thể gặp được Phật pháp chân chánh, lại có thể gặp được pháp môn thù thắng nhất là pháp môn Tịnh Ðộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái duyên này thiệt là không thể nghĩ bàn; kệ khai kinh có nói ‘<em>Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ’ (trăm ngàn muôn kiếp cũng khó gặp được</em>), cư sĩ Bành Tế Thanh có nói: ‘<em>Vô lượng kiếp lai hy hữu nan phùng chi nhất nhật’ (một ngày rất hiếm rất khó gặp trong vô lượng kiếp qua</em>).  Chúng ta hôm nay cố nhiên đã gặp được, thiện căn phước đức nhân duyên có đầy đủ rồi, nếu tự mình không thể nắm lấy cơ hội mà để nó trôi qua, đó thiệt là rất đáng tiếc!</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay chúng ta tiếp tục đàm luận những chướng ngại trong sự hành trì của chúng ta, thiệt tình mà nói, Thế tôn đúng là một người có trí huệ bậc nhất.  Giống như những người trong các tôn giáo khác khen ngợi ‘Thần’ là ‘Không có gì không biết, không có gì là không có khả năng làm được’.  Sau khi Phật diệt độ hai ngàn năm trăm năm, những chướng ngại của chúng sanh đời mạt pháp, Thế tôn năm xưa trong lúc giảng kinh thuyết pháp đã có nói qua hết, nếu không có trí huệ siêu việt thì không thể nói ra được.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>C. CHƯỚNG NGẠI CỦA HÀNH GIẢ:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Người hiện nay tạo tội nghiệp có thể nói là rất phổ biến, tất cả đều đem việc này coi thành việc thông thường, cho nên riết rồi không ai để ý và quan tâm đến, mà không biết quả báo rất đáng sợ.  Không kể xuất gia hay tại gia, có mấy người học Phật đã thiệt giác ngộ, thiệt hối cải rồi?  Trong kinh, Phật cũng nói những người này rất hiếm, rất ít có, nhưng không thể nói không có, chỉ nói là rất hiếm mà thôi.  Chúng ta tự hỏi mình có phải là một trong thiểu số những người đức Phật nói ở trên.  Ðây là điều chúng ta nên giác ngộ, nên thức tỉnh, phải thành thật mà phản tỉnh và kiểm điểm lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đức Phật còn tại thế, đã có một số Bồ Tát tỏ ra rất ngu xuẩn không có trí huệ, tạo ra rất nhiều tội nghiệp, cho dù muốn tu hành nhưng chướng ngại quá nhiều. Họ có phải thiệt là như vậy không?  Chúng ta có thể suy nghĩ xem những việc đó chưa chắc đã là thiệt.  Vì Thế tôn năm xưa xuất hiện tại thế gian này, có rất nhiều vị cổ Phật hoặc đại Bồ Tát trở lại giúp đỡ cho Phật để hoằng pháp độ sanh.  Họ thị hiện trong chúng Tỳ Kheo, chúng Bồ Tát, và người hộ pháp, không kể họ có hành vi thuận hoặc nghịch đều là cố ý làm ra.  Tại sao phải làm như vậy?  Vì muốn dạy cho tất cả chúng sanh, đây thiệt là đại từ đại bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu không có những sự tiêu biểu (thị hiện) này, rất nhiều pháp đức Phật không thể nói ra được.  Tại vì đức Phật nói pháp đều là tùy cơ mà nói; những sự thị hiện của các vị nói trên đều là thay mặt chúng sanh mà thỉnh pháp.  Có người thì trực tiếp hỏi, đây gọi là ‘ngôn ngữ thỉnh pháp’; có người cố ý tạo ra những ác hạnh, để cho Phật thấy được mà lại khai đạo (dạy) giáo huấn, đây là dùng thân nghiệp để thỉnh pháp.  Ngoại trừ dùng thân nghiệp và khẩu nghiệp để thỉnh pháp, ý nghiệp cũng có thể thỉnh pháp.  Chúng ta cũng thường thấy được trong kinh điển Ðại thừa, chúng đệ tử vừa khởi tâm động niệm, tuy là chưa nói ra Phật đã biết được.  Giống như trong kinh Vô Lượng Thọ, đoạn nói về vua A Xà Thế, họ dùng ‘niệm’ để thỉnh pháp.  Trong tâm có niệm như vậy, chưa nói ra Phật đã kể lại nhân duyên của họ trong đời quá khứ.  Do đây có thể biết thân, ngữ, ý ba nghiệp đều có thể thỉnh pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên khi chúng ta biết được điểm này, chúng ta không thể dùng tâm khinh mạn để xem xét những mật hạnh của hàng Tỳ Kheo, Bồ Tát.  Nhất định phải biết họ là vì đại từ đại bi thay thế chúng ta để thỉnh pháp.  Những gì họ biểu hiện ra đều là những ý ác, khẩu ác, hành ác của chúng ta hiện nay.  Nếu không có sự thỉnh cầu của họ thì sẽ không có sự giảng dạy của Phật, chúng ta làm sao có thể biết được là mình đã phạm lỗi lầm?  Biết được mình đã phạm lỗi lầm rất nghiêm trọng?</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta sơ lược cử ra một thí dụ trong kinh, chuyện này chúng ta rất thường nhắc lại trong những buổi giảng kinh.  Tuy là thường nhắc lại nhưng nhiều khi cũng bị mọi người quên mất.  Ðó là tùy tâm vui vẻ của mình hoặc tùy tâm ưa thích của mình mà chửi mắng, phỉ báng, sỉ nhục người khác, mà không biết sự đáng sợ của nghiệp tội này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh, Phật đã kể lại chuyện của một người xuất gia lúc Phật còn tại thế, chứ không phải thời mạt pháp hiện giờ.  Người xuất gia này ỷ là mình học rộng, thường nghe Phật giảng kinh thuyết pháp, nghe nhiều nên sanh tâm kiêu ngạo cũng giống như người hiện nay thường nói ‘điều này đáng được hãnh diện’.  Lúc Phật còn tại thế, vị này tu học rất tốt, trì giới thanh tịnh, nghe kinh rất nhiều, cho nên rất kiêu ngạo.  Kiêu ngạo là phiền não, bạn thấy vị này không sanh trí huệ mà lại sanh phiền não, vậy là sai rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn một loại người tu hành, tuy là không có tâm kiêu mạn, họ tu khổ hạnh, muốn ít, biết đủ, điều này rất quý.  Cũng giống như đời sau này những người [ẩn tu] trong núi, trong túp lều tranh; so với những người khác những người tu hành này quả thật thân tâm thanh tịnh hơn nhiều.  Tuy nhiên họ lại chấp tướng, chấp tướng thì sai rồi.  Trong kinh Kim Cang nói rất hay: ‘<em>Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì không phải Bồ Tát</em>’.  Phật không thừa nhận người như vậy là Bồ Tát.  Chúng ta nghĩ coi lúc đức Phật còn tại thế đã như vậy huống gì là thời mạt pháp bây giờ, đã hai ngàn năm trăm năm qua rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc Thế Tôn còn tại thế, có thể nói cả đời đều dùng để giảng kinh thuyết pháp,  ngài thuyết pháp hết 49 năm.  Lúc đó khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển, cách xa nơi Phật thuyết pháp thì không thể nghe pháp, vì vậy cơ hội nghe pháp thiệt là rất hiếm hoi.  Cho nên Thế Tôn thường phái những đệ tử xuất gia và tại gia biết giảng kinh thuyết pháp đi khắp nơi để thay thế Phật hoằng pháp lợi sanh.  Có thể nói là những vị này trong lớp học của Phật dạy đã tốt nghiệp ra trường.  Họ có thể giảng kinh, biết phương pháp tu hành, cũng tu được rất tốt, cho nên được phái đi khắp nơi để giảng kinh thuyết pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Trí huệ và phước đức của đức Phật đều viên mãn đương nhiên sẽ được tất cả mọi người cung kính.  Những học trò của đức Phật được phái đi giảng kinh đa số cũng được quần chúng tôn kính, nhưng cũng có một số ít không được như vậy, mà còn bị người ta khinh khi và phỉ báng nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta biết phiền não tập khí của chúng sanh trong lục đạo rất nặng.  Những thứ phiền não như tham, sân, si, mạn, đố kỵ không cần học cũng có vì những thứ này đều là phiền não tích lũy từ nhiều đời trước; khi thấy người khác xuất sắc hơn mình, trong tâm liền không phục, từ đó liền kiếm mọi cách đi phá hoại.  Những chuyện như vậy trong đời mạt pháp hiện nay còn nhiều hơn hồi trước rất nhiều, bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào chúng ta đều có thể thấy được.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoằng pháp lợi sanh là chuyện tốt.  Tuy nhiên chuyện tốt thì sẽ gặp nhiều ma chướng.  Ma chướng là những chuyện rắc rối, tuy là làm chuyện tốt nhưng bạn sẽ gặp rất nhiều chuyện cản trở, chuyện rắc rối xảy ra.  Phật nói thời bấy giờ có hai vị tỳ kheo được Phật phái đi thuyết pháp.  Nếu pháp sư có đức hạnh, có biện tài, có thiện xảo, tự nhiên sẽ được tín chúng ưa chuộng.  Pháp duyên của hai vị pháp sư này rất thù thắng, tín chúng rất đông, đương nhiên cúng dường cũng rất nhiều.  Những vị pháp sư khác nhìn thấy thì trong tâm không mấy gì vui, sanh tâm đố kỵ và tìm đủ mọi cách để gây chướng ngại cho hai vị này.  Cho nên họ mới bịa chuyện nói là hai vị đó phá giới, nói họ chỉ biết nói mà không biết làm, nói họ đã phạm bốn trọng giới (bốn giới chính là sát sanh, trộm cắp, dâm dục, và nói dối).</p>
<p style="text-align: justify;">Có người đi dèm pha bịa chuyện rồi nói cho người khác nghe; có người phỉ báng, đi nói xấu hai vị này khiến cho người nghe sanh tâm hoài nghi, mất lòng tin đối với pháp sư.  Từ đó pháp duyên của hai vị này dần dần giảm bớt, người nghe cũng bớt đi không ít.  Những người đố kỵ đã đạt được mục đích, đã thành công trong việc phá hoại và gây chướng ngại cho hai vị pháp sư kể trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên Phật nói ác nghiệp của người đố kỵ, phỉ báng, phá hoại hai vị pháp sư kể trên quá nặng, quả báo của người đó là đọa địa ngục A Tỳ sáu triệu năm, sáu triệu năm này là dùng thời gian của chúng ta mà tính.  Người Trung Quốc có 5000 năm lịch sử, các vị thử nghĩ xem 5000 năm chỉ là một nửa của một vạn năm.  Thời gian đọa địa ngục của người đó là gấp 1200 lần nhiều hơn 5000 năm của lịch sử Trung Quốc.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau sáu triệu năm trong địa ngục A Tỳ hết rồi, tội của người đó cũng chưa tiêu hết, tội nặng báo hết nhưng còn tội nhẹ còn lại, cho nên chuyển đến địa ngục Ðẳng Hoạt chịu tội thêm 4 triệu năm nữa.  Sau đó sanh đến địa ngục Hắc Thằng chịu 2 triệu năm.  Tiếp theo lại chuyển đến địa ngục Thiêu Nhiệt (sự trừng phạt ở đây nhẹ hơn) chịu thêm 6 triệu năm.  Tổng cộng là 18 triệu năm.  Câu chuyện này là do Phật thuật lại.  Kinh Kim Cang có nói: ‘<em>Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả’ (tạm dịch: Như Lai là người nói lời chân thật, lời đúng như thế, người không nói lời lừa gạt, không nói lời khác biệt)</em>.  Phật tuyệt đối không nói một lời giả dối.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta thử nghĩ coi tạo những thứ nghiệp này rất dễ dàng, tại sao lại mắc phải tội nặng như vậy?  Ðiều này thiệt làm cho chúng ta suy nghĩ không ra, hình như chịu tội như vậy là quá nặng, không hợp lý tí nào.  Thật ra nếu chư vị đọc kỹ giới kinh thì sẽ hiểu, trong Phật pháp sự định tội không phải do một người nào đó đặt ra, không như trong thế gian có pháp luật, có quan tòa xử án; trong Phật pháp không có, chư Phật Bồ Tát không làm quan tòa, không làm thẩm phán; trong Phật pháp không giống như pháp luật trong thế gian, không có định ra phải trừng phạt tội nhân như thế nào; chư Phật Bồ Tát đều rất từ bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu thế thì tại sao lại có những thứ nghiệp tội như vậy?  Tội này được gọi là ‘tánh tội’, thật là tự làm tự chịu.  Ðịa ngục ở đâu?  Ðịa ngục là tội báo của người ta tự nhiên biến hiện ra chứ không phải có ai tạo ra một cái địa ngục để cho người ta vào chịu tội.  Chư Phật Bồ Tát không làm những chuyện như vậy, chư thiên, quỷ, thần cũng không làm những chuyện này, Diêm La Vương cũng không làm những chuyện này.</p>
<p style="text-align: justify;">Lão cư sĩ Châu Kính Trụ có thuật lại một câu chuyện và sau này cũng có viết trong một quyển sách, hình như tựa là ‘Bát Ðại Nhân Giác Kinh Giảng Ký’.  Nội dung của câu chuyện nói đến nhạc phụ của ông là ông Chương Thái Diệm.  Ông Chương giữ chức ‘Quốc Học Ðại Sư’ vào thời Dân quốc và trước đó đã làm ‘phán quan của Ðông Ngục’.  Ðông Ngục Ðại Ðế (vua của Ðông Ngục) là Ðại Quỷ Vương, quyền lực của ông vua này chỉ thua Diêm La Vương một bậc.  Chức phán quan cũng tương tợ như chức bí thư trưởng hiện nay, địa vị này cũng rất cao.  Ông Chương là người học Phật, nghe nói trong địa ngục có hình phạt gọi là ‘bào lạc’, ‘bào lạc’ là đem cột sắt đốt đỏ rực lên rồi bắt tội nhân đi ôm cột sắt nóng đó.  Ông Chương nói hình phạt này quá tàn nhẫn và đề nghị Quỷ Vương của Ðông Ngục nên bải bỏ hình phạt này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông vua Ðông Ngục không trả lời, mỉm cười và sai hai chú tiểu quỷ dẫn ông Chương đi đến chỗ tội nhân bị hành hình để xem; hai chú tiểu quỷ này bèn dẫn ông Chương đi một nơi rất xa rồi chỉ về một phía và nói: “Ở phía trước kìa”.  Nhưng ông lại nhìn không thấy gì hết; từ đó ông mới hiểu hình phạt đó không phải do người nào lập nên mà từ trong tự tánh biến hiện ra, chuyện này hoàn toàn phù hợp với những gì nói trong Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh nói địa ngục chỉ có hai loại người có thể thấy được, một là người tạo tội đi chịu trừng phạt biến hiện ra; còn loại thứ hai là Bồ Tát đi vào địa ngục để cứu chúng sanh.  Không phải hai loại này, địa ngục ở ngay trước mặt bạn cũng không thấy được, cho nên ông Chương nhìn không thấy.  Như vậy mới nói rằng đây không phải vấn đề tàn khốc và nhân từ, mà là tội tánh biến hiện ra quả báo.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng giống như một người thường ngày hay làm ác, ban đêm thường có ác mộng.  Ai làm cho họ có những ác mộng như vậy?  Là tự tánh của họ biến hiện ra, tuyệt đối không phải là người khác tạo ra ác mộng để cho người đó chịu, là tự người đó biến hiện ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tội từ đâu hình thành nặng như vậy?  Phật nói với chúng ta, đối tượng của tội mà người kể ở trên tạo ra không phải là đối với hai vị pháp sư.  Nếu bạn phỉ báng hai người này, thật tình mà nói không phải là tội nặng lắm.  Tội là từ chỗ nào mà tính?  Là từ chỗ tất cả những tín đồ thính chúng ở trong khu vực này tại vì những lời phỉ báng đó mà không tin Phật, không chịu nghe Phật Pháp nữa, không chịu noi theo Phật Pháp mà tu hành.  Họ đem thiện căn của những người trong khu vực này đoạn mất, đem pháp thân huệ mạng của những chúng sanh này đoạn dứt.  Tội là từ chỗ này mà tính, vì thế nên tội này rất nặng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Phật nói giết người đoạt mất thân mạng người là chuyện nhỏ.  Bạn giết đi một người, 49 ngày sau họ đi đầu thai trở lại.  Một người bị giết đi rất dễ lấy được thân người trở lại, tại vì bị giết không có tội, chỉ có người đi giết người mới có tội.  Trong đời này tôi được thân người, nhờ tôi còn một chút phước thừa, tuy là bị người khác giết đi, 49 ngày sau đầu thai cũng có thể làm người trở lại.  Ðời sau còn có thể tiếp tục hưởng phước.  Cho nên giết người lấy mạng người thì tội nhẹ, tội làm mất huệ mạng của người mới nặng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghe được Phật pháp không phải dễ, cơ duyên này thật là rất khó được, rất khó gặp.  Trong kinh có nói ‘<em>Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn’ (</em>nghĩa là<em> Thân người khó được, Phật pháp khó được nghe)</em>.  Nghe được Phật pháp còn khó hơn được thân người, điều này là thật không phải giả đâu.  Một người trong đời này có thể nghe được Phật pháp, nếu có thể giác ngộ (tỉnh thức) được, người đó trong đời này sẽ làm Phật.  Họ thành Phật, bạn thử nghĩ xem, chư Phật Như Lai sẽ không ngớt lời khen ngợi công đức của người đó.  Nếu bạn hôm nay đem cái cơ duyên này cắt đứt mất, tội của bạn nặng bao nhiêu?  Tội là từ chỗ này mà tính.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên Phật nói phạm tội này phải đọa địa ngục A Tỳ 18 triệu năm, từ địa ngục ra vẫn còn quả báo thừa.  Từ địa ngục ra mới được làm người; Phật nói trong vòng năm trăm đời, khi sanh ra bị mù không có mắt.  Phải chịu đui mù ngay từ lúc lọt lòng!  Sau 500 đời tội đó từ từ nhẹ đi, nhưng vẫn thường sanh ở biên địa; trong Phật pháp biên địa nghĩa là những địa phương mà tiêu chuẩn văn hóa rất lạc hậu, người thường rất ngu dốt, không được học hành, nghèo nàn, thường bị người khác chê bai, trêu chọc, ức hiếp; tất cả những thứ này đều là do nghiệp báo đời quá khứ tạo ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Người này lúc trước cũng từng xuất gia, cũng là người tu hành, nhưng vì chướng ngại của sự đố kỵ mà tạo ra tội nặng như vậy, cho nên họ có lúc cũng sẽ có một niệm tỉnh ngộ muốn tu hành, tuy nhiên ý niệm này vừa mới khởi lên, nhưng vì nghiệp chướng quá nặng ý niệm này rất mau lại tiêu mất, như thế mới biết khó dường nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phải khẳng định rằng, trong đời quá khứ chúng ta cũng đã từng trải qua.  Phật không phải nói người khác, thật là đang nói chúng ta đó.  Chúng ta hôm nay được thân người, được nghe Phật pháp, nên biết trong đó đã trải qua quá trình dài như thế nào, đã chịu đựng qua những tội báo rất nặng!  Phật nói những lời này, người hiện nay có mấy ai tiếp nhận và có thể tin đuợc?</p>
<p style="text-align: justify;">Ðọc kinh Phật và nghe giảng pháp dường như nghe kể chuyện thần thoại, dường như những ‘chuyện thần thoại’ Phật kể ra không có chút gì dính líu với chúng ta, nào ngờ đâu những chuyện này chính là chuyện của cá nhân chúng ta.  Phật nói tương lai nghiệp chướng tiêu diệt hết, họ sẽ sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới, sẽ thấy đức Phật A Di Ðà,  A Di Ðà Phật sẽ thọ ký cho họ.  Chuyện này có thật không?  Là thật đó.  Tại sao vậy?  Khi chúng ta đã nghe qua một danh hiệu ‘A Di Ðà Phật’, đã thấy qua tranh ảnh hoặc là hình tượng của Phật A Di Ðà, trong A lại da thức đã có hột giống của Phật A Di Ðà, giống như câu nói ‘nhất lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng’ (nghĩa là ‘một phen lọt vào tai, hột giống của đạo đã được gieo vĩnh viễn rồi &#8216;).</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>D.  TIÊU TRỪ CHƯỚNG NGẠI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Trong đời này nếu chúng ta không cố gắng tu học, không tiêu trừ những chướng ngại này, chúng ta sẽ không vãng sanh được, cho dù không tạo ra tội nặng cũng không thể vãng sanh.  Nếu như tiếp tục tạo những tội nặng như [phỉ] báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, thì chuyện rắc rối này rất lớn, còn phải đi vào địa ngục, biến thành súc sanh, làm người ngu si, phải trải qua vô lượng kiếp như vậy thật là quá khổ!.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên chúng ta phải biết sám hối, phải thành thật mà ăn năn.  Ăn năn trên căn bản là phải thay đổi quan niệm của chúng ta, từ trong tâm sửa đổi, từ trong sinh hoạt hàng ngày khi đối xử với người và tiếp xúc với sự việc mà làm.  Chúng ta nhất quyết phải thay đổi trên ‘sự tướng’ mới có kết quả.   Ðức Phật đã vì chúng ta nêu ra vài thí dụ nhưng vì sự việc quá phức tạp nói ra không hết; chúng ta phải có khả năng nghe một hiểu mười, nghe Phật nói đến một trường hợp thì có thể liên tưởng đến những trường hợp khác tương tự, những thứ này đều phải sửa đổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>1. Bất cầu tha quá (Không để ý đến lỗi của người khác)</em></p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, từ nay về sau đối với những thiện tri thức hoằng pháp, không kể người đó là tại gia hay xuất gia, khi nhìn thấy hoặc là nghe nói họ phạm lỗi lầm, tuyệt đối không nói, phải thật là làm được ‘nhìn mà không thấy, nghe mà không biết’.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta là phàm phu, họ ở trong cảnh giới gì, chúng ta làm sao biết được?  Nếu họ là phàm phu họ tạo ra tội lỗi, họ sẽ chịu lấy quả báo.  Nếu chúng ta đi đến đâu đều kể lại, đến đâu cũng phân biệt chấp trước, chúng ta tự mình phải chịu quả báo, điều này thật không đáng tí nào.  Ðây là tuyệt không gây chướng ngại cho việc hoằng pháp lợi sanh, tuyệt không gây chướng ngại cơ duyên nghe pháp của đại chúng trong vùng này.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ lúc nào cũng không nên tìm khuyết điểm của người khác.  Giữ ý niệm này đã là không tốt huống chi là làm những việc như vậy.  Ðiều đó đối với chuyện tu hành của mình đã sanh ra chướng ngại rất lớn.  Vậy thì chúng ta đang tu cái gì?  Ðiều này không thể không biết.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðiều chúng ta đang tu là: Giác, Chánh, và Tịnh.  Giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm.  Trong ba điều này Tịnh Tông đặc biệt chú trọng tâm thanh tịnh, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.  Cứ thường đi gây rắc rối cho người khác, tâm của bạn làm sao có thể thanh tịnh?  Nếu muốn có tâm thanh tịnh, chuyện của  người khác chúng ta không cần biết đến, như thế tâm của chúng ta mới được thanh tịnh.  Cố ý gây rắc rối cho người khác tuyệt đối sẽ không có tâm thanh tịnh; những người như vậy nhất quyết không đắc được định.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu không có định thì sẽ không có trí huệ, không có định và huệ thì người đó nhất định sẽ bị vô minh phiền não che lấp.  Một người từ sáng đến tối đều bị vô minh che lấp thì làm sao không tạo tội được?  Không thế nào được mà!  Ðây là điều chúng ta phải ghi nhớ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2. Không nên tự khen mình mà chê bai kẻ khác.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai, cho dù chúng ta tu hành rất đàng hoàng đi nữa, hôm qua tôi có nói, cho dù công phu của chúng ta đã được đắc lực, đã đạt được sự thọ dụng chân thật của Phật pháp, cũng không được tự khen mình mà chê người khác.  Ðây là căn bịnh thường có của mọi người, thường tán thán khen ngợi pháp môn của mình, và còn nói mình tu tập được rất tốt, người khác đều không bằng, điều này không được.  Ðây cũng là vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn nói mình tu hành rất tốt, đem so sánh với A La Hán thì sao?  So sánh với Bồ Tát thì sao?  Thua xa mà.  Có một chút này mà ăn thua gì?  Tuyệt đối không được tự mình khen mình, tuyệt đối không được phỉ báng kẻ khác.  Chuyện này đời xưa có, ngày nay đặc biệt còn nhiều hơn, quá nhiều, không biết nghiệp tội này nặng.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta tu Tịnh Ðộ niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc, khi gặp người tham Thiền hoặc người học Mật thì cũng như gặp oan gia kẻ thù.   Như vậy làm sao được?  <em>Thiền là do Phật truyền ra, Mật cũng là do Phật truyền ra mà, nếu bạn phỉ báng những pháp môn này, như vậy không phải là phỉ báng Phật rồi sao</em>?  <em>Phỉ báng những pháp mà Phật dạy rồi sao?  Người y theo Thiền, Mật tu hành thành công rất nhiều, ngày nay tuy là ít đi rồi, lúc trước rất nhiều, như vậy không phải là bạn đã phỉ báng Tăng rồi sao?</em></p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên không hay không biết chúng ta đã phạm những lỗi lầm này, tự khen mình mà nói xấu chê bai kẻ khác, phỉ báng Tam Bảo, điều này phải đọa địa ngục A Tỳ, từ nay về sau đừng làm chuyện ngu xuẩn này nữa.  Phải nên có thái độ như thế nào mới đúng?  Khi thấy người khác tham thiền, người khác trì chú, chúng ta phải cung kính đối xử với họ, cung kính một cách hoan hỷ, tán thán mà không thể hủy báng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1977 khi tôi ở Hương Cảng giảng kinh Lăng Nghiêm, pháp sư Thánh Nhất có lại thăm và dự ba ngày giảng kinh nữa; ngài rất hoan hỷ và còn khuyên tín đồ của ngài đến nghe tôi giảng kinh.  Pháp sư tu theo Thiền Tông, một hôm có mời tôi đến tham quan tự viện của ngài, tôi cũng rất hoan hỷ nhận lời.  Pháp sư trụ trì tại Chùa Bảo Liên ở phía sau của Ðại Di Sơn; đường lên núi rất nhỏ hẹp, xe chạy lên không được, phải đi bộ khoảng ba bốn mươi phút mới lên đến một ngôi chùa nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp sư nói với tôi rằng mục đích không mở rộng đường lên núi là để tạo một chút khó khăn khi lên chùa.  Nếu bạn không phải thật đi đến chùa để học hỏi thì đừng đến chùa, cho nên không mở rộng đường ra, mục đích này rất hay!  Tôi đi đến đó tham quan và rất khâm phục họ; từ trước đến nay tôi chưa thấy qua một đạo tràng nào trang nghiêm như vậy.  Tăng chúng trong chùa có khoảng bốn mươi mấy vị, mỗi ngày đều đúng giờ tọa hương tham thiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp sư mời tôi giảng khai thị tại Thiền đường, tôi không thể nói tham Thiền không thể thành tựu, niệm Phật mới thành tựu được; như vậy không phải là phá hoại đạo tràng của người khác rồi sao?  Ðiều này nhất định không thể làm!  Hên là lúc trước tôi có giảng kinh Kim Cang, Lục Tổ Ðàn Kinh, Vĩnh Gia Thiền Tông Tập Chứng Ðạo Ca, chuyện trong Thiền Tông tôi có giảng qua một ít, cho nên ‘Khẩu Ðầu Thiền’ cũng không đến nỗi tệ.  Tôi khen ngợi họ, khâm phục, tán thán đạo tràng, khen ngợi pháp sư, khen ngợi đại chúng tham học Thiền tại đó, đây đều là những điều phải làm hết.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi ra về, những vị đồng tu cùng tôi lên thăm chùa mới hỏi: ‘Pháp sư tán thán Thiền Tông như vậy, tại sao lại niệm A Di Ðà Phật?’  Tôi mới nói với họ vì căn tánh của tôi không lanh lợi, không bì được với người tham thiền, đừng nói tôi không thể khai ngộ, cả việc có thể được thiền định hay không cũng không chắc nữa.  Còn niệm Phật, nương nhờ A Di Ðà Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì tôi vững tâm hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nói những lời này đều là thật, cho nên nhà Phật có nói ‘Nếu muốn Phật pháp hưng thạnh, chỉ cần Tăng khen ngợi Tăng’.  Tán thán khen ngợi lẫn nhau, Phật pháp mới có thể phục hưng lại, mới có thể phát triển rộng ra.  Nếu người nào cũng phỉ báng chê bai lẫn nhau thì không tốt, tất cả đều phải đọa địa ngục A Tỳ.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này, căn tánh của tất cả chúng sanh không giống nhau cho nên Phật mới mở ra vô lượng pháp môn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả pháp môn đều ứng cơ (tùy theo căn cơ và điều kiện của chúng sanh) mà thuyết pháp; bạn thích pháp môn nào, y theo pháp môn đó tu học đều có thể thành tựu.  Cho nên ‘<em>Pháp môn bình đẳng, không có cao thấp</em>’, vậy thì làm sao có thể phỉ báng được?  Không những không thể phỉ báng những pháp môn trong Phật pháp mà cũng không thể phỉ báng những tôn giáo khác trong thế gian.  Hai ngàn năm trở lại tôn giáo tín ngưỡng là yếu tố duy trì trật tự trong xã hội của những quốc gia Tây phương, làm cho người ta khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến Thượng Ðế, cho nên ít nhiều gì cũng phải dè dặt thu liễm một chút.  Ðây là thiện pháp của thế gian, bạn làm sao có thể phá hoại nó được chứ?  Bạn làm sao có thể nói không có Thần, không có Thượng Ðế được chứ?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu người ta mất đi tín ngưỡng của tôn giáo, tùy thuận theo phiền não, thì không có chuyện ác gì mà không làm, như vậy làm sao được?  Cho nên đối với những thiện pháp trong thế gian cũng phải tán thán.  Phật dạy chúng ta trong sáu niệm, ngoài niệm Phật, Pháp, Tăng còn phải niệm Thiên nữa.  Thiên này là đại diện cho tôn giáo, đây là một quan điểm đạo đức căn bản, thường thường vì hạnh phúc của tất cả chúng sanh mà mưu cầu, vì sự hòa bình an lạc của tất cả chúng sanh mà suy nghĩ.  Tất cả những thiện pháp trong thế gian và xuất thế gian, chúng ta đều phải tôn kính, phải tán thán.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta sanh trưởng trong thời đại hôm nay vô cùng đau khổ, đừng thấy khoa học kỹ thuật của thời đại hiện nay phát triển, văn minh vật chất tiến bộ, đời sống vật chất của chúng ta so với trước tiến bộ rất nhiều, nhưng những thứ hưởng thụ mà chúng ta có được ngày nay, chư vị hãy bình tĩnh và suy nghĩ, chúng ta phải trả bằng một giá rất đắt.  Thử tính toán kỹ một chút, phần được không đủ bù đắp lại phần mất đi, chúng ta mất đi quá nhiều mà đạt được rất ít.  Bài toán này có mấy người biết tính, người biết tính càng ngày càng ít!</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta tổn thất đi những gì?  Luân lý, đạo đức bị tổn hại.  Phần cảm tình đạo nghĩa giữa người và người đã mất, chân tình đã mất.  Không kể là khoa học kỹ thuật hôm nay có phát triển đến đâu đi nữa đều không thể bù đắp lại được, cho nên mới nói là chỗ được không bù nổi chỗ mất.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu hành trong thời đại bây giờ nếu thành công thì chư Phật Bồ Tát đều tán thán và khâm phục.  Tu hành thất bại mắc đọa vào địa ngục A Tỳ, chư Phật Bồ Tát cũng gật đầu và nói: ‘Ðúng rồi! chắc chắn phải như vậy mà’.  Tại sao vậy?  Phía trong có phiền não, phía ngoài có dụ dỗ mê hoặc, bạn có định lực bao lớn để có thể đối phó và giữ vững được?  Bạn có trí huệ bao lớn mà có thể đem chân tướng của sự thật này xem xét một cách rõ ràng?  Như vậy mới biết thật là không đơn giản.  Không giống như hồi trước, hồi trước phong khí xã hội tốt, nhân tâm lương thiện, người người đều  giữ lễ, tuân theo pháp luật, không dám làm điều xằng bậy, đều tôn trọng lời dạy của thánh hiền nên tu học rất dễ dàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khó tin nhưng có thể tin, khó tu nhưng chịu tu, đây là những người hào kiệt xuất chúng, là người mà chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền đều tán thán, chúng ta có phải là một phần tử trong nhóm người này không?</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại hôm nay, mỗi câu Phật dạy cho chúng ta, chúng ta thử suy nghĩ kỹ càng, ý nghĩa sự lý đều rất sâu rộng; tỉ dụ Phật dạy chúng ta ‘<em>Ðối với tất cả chúng sanh không để ý đến lỗi lầm của họ</em>’.  Ðừng nên nhìn khuyết điểm của người khác, đừng nêu lên lỗi lầm của người khác, ý nghĩa của câu này rất sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðiểm thứ nhất là có thể thành tựu được định huệ và tâm thanh tịnh của mình; tâm thanh tịnh phát khởi tác dụng là trí huệ.  Tham, sân, si, mạn là ô nhiễm, tâm ô nhiễm khởi tác dụng là phiền não, là tạo nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta không để ý đến lỗi của người khác.  Người trong thế gian tạo tội, tạo nghiệp thì mình cũng không màn đến, như vậy tâm dễ thanh tịnh hơn, đây là một ý nghĩa trong đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ý nghĩa thứ hai, khi bạn gây rắc rối cho người khác, bạn nói ra lỗi lầm của người khác, người đó cam tâm hay không?  Có chịu không?  Nếu không cam tâm, không nhận chịu thì bạn đã kết oán thù với người đó.  Kết oán thù thì nhất định phải có sự báo phục.  Cho dù bạn làm được hoàn toàn khéo léo, người khác cũng không biết là bạn gây ra, bạn có thể che đậy được hoàn toàn, tuy là họ không biết ai gây ra nhưng nhớ và hận ở trong tâm.  Chết rồi đi làm quỷ, quỷ có ngũ thông cho nên có thể tìm ra người hại họ lúc trước.  Tìm ra rồi oan oan tương báo không bao giờ dứt được.  Ðời này bạn hại họ, đời sau họ báo thù rồi hại bạn lại, đời sau nữa bạn lại báo thù họ thêm lần nữa, vĩnh viễn rối nùi!  Con đường Bồ Ðề phát sanh ra nhiều chướng ngại đều phát sanh từ chỗ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên chúng ta phải giải quyết vấn đề này, nhất định phải từ căn bản mà hạ thủ.  Căn bản là ‘<em>Bất kiến thế gian quá, bất kiến nhân thị phi’ (</em>nghĩa là<em> Ðừng nhìn lỗi lầm của người trong thế gian, đừng nhìn chuyện thị phi của thiên hạ</em>).  Cho dù là trong thời quá khứ có tạo ra nghiệp nhân này, hôm nay bạn đã đem cái duyên này đoạn dứt. Duyên cắt đứt rồi,  tốt lắm!  Tuy là có nhân mà không có duyên nên không có thể kết trái.  Chúng ta niệm Phật vãng sanh cũng đem chướng ngại giảm đi không ít!</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>E. PHÁP THANH TỊNH GIẢI THOÁT</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>1.  Xa lìa chỗ huyên náo.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Kế đến, Phật dạy chúng ta nên rời xa những nơi náo nhiệt; nếu bạn thích chỗ náo nhiệt, bạn thử nghĩ xem cái tâm đó làm sao an định được?  Phàm những gì Phật cấm không cho chúng ta làm, bạn suy nghĩ xem các thứ đó đều gây chướng ngại cho định và huệ.  Cho nên Phật khuyên những người tu hành chúng ta nên an tịnh lại, hoàn cảnh càng thanh tịnh càng tốt, thật giống như câu nói ‘<em>Nhiều một việc không bằng ít một việc, ít một việc không bằng không có việc [gì xảy ra]</em>’.  Không có việc gì thì tương ứng với đạo.  Ðạo là định và huệ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2.  Thiểu dục tri túc (Ham muốn ít và biết đủ).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời sống sinh hoạt thường ngày Phật dạy chúng ta phải tri túc, tri túc thì thường lạc; bỏ đi ý niệm ham muốn dục vọng này vì nó là căn bản của lục đạo luân hồi; nếu những ý niệm này không đoạn dứt mà còn tăng trưởng thì rất khó thoát ly sáu nẻo luân hồi; nên thân chúng ta phải thanh tịnh, tâm phải thanh tịnh, hoàn cảnh xung quanh cũng phải thanh tịnh, đó mới là trợ duyên tốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Dùng phương pháp gì để đoạn dứt vọng tưởng?  Ðiều này rất quan trọng, vọng tưởng là gốc rễ của lục đạo luân hồi, là gốc rễ của ba đường ác.  Tịnh Tông dạy cho chúng ta phương pháp niệm Phật.  Chúng ta không có biện pháp không suy nghĩ, tự nhiên đầu óc phải suy nghĩ, muốn không suy nghĩ cũng không được.  Phật biết được đây là tập khí (thói quen) từ vô lượng kiếp đến nay, nếu vậy thì nên nghĩ những gì?  Nên nghĩ về Phật và nghĩ đến kinh.  Ðọc kinh thật thuộc, thường nên suy nghĩ về những đạo lý trong kinh, phải suy nghĩ những thứ này mới tốt.  Hoặc là suy nghĩ về y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới miêu tả trong kinh, nghĩ như vậy cũng tốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh điển Ðại thừa thường nói: ‘<em>Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh ra</em>’.  Thường nghĩ về Tây phương Cực Lạc thế giới, cảnh giới này sẽ biến thành Tây phương Cực Lạc thế giới; thường nghĩ về A Di Ðà Phật, chánh báo thân hình sẽ biến thành A Di Ðà Phật, điều này rất hợp lý; không nên nghĩ sai, nghĩ tưởng sai sẽ hỏng mất.  Thấy sai, nghĩ tưởng sai, quả báo sẽ không thể tưởng tượng được.</p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>3. Viễn ly lợi dưỡng (Xa lìa danh lợi hưởng thụ).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phật nói thời mạt pháp của chúng ta hiện nay có một số Bồ Tát không có trí huệ.  Những Bồ Tát này bao gồm xuất gia lẫn tại gia.  Chúng ta hiện nay thường thọ Bồ Tát giới, đều mang danh là Bồ Tát hết; chúng ta xây dựng một đạo tràng, trong đạo tràng rất là náo nhiệt, ngày nào cũng làm Phật sự, đây thường được gọi là ‘hoằng pháp lợi sanh’.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta ở Ðài Loan thường nghe đến danh từ ‘Mở tiệm Phật’.  Khi xây dựng một đạo tràng đem nó kinh doanh như một tiệm buôn, đó gọi là ‘mở tiệm Phật’. Những người này được gọi là  ‘Bồ Tát ngu si’, Bồ Tát không có trí huệ.  Họ đi làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh có mục đích gì?  Mục đích là để kiếm lời, kiếm tiền.  Khi tín chúng cúng dường tiền bạc càng ngày càng nhiều thì họ sanh tâm vui mừng.  Nếu không có tiền thì họ không vui, dùng tâm trạng này mà làm việc, thậm chí còn đi thuyết pháp, tất cả đều là lỗi lầm, tất cả đều là đang tạo nghiệp tội.</p>
<p style="text-align: justify;">Huống chi còn dùng các thứ thủ đoạn để kéo tất cả thân hữu tín đồ về với mình.  Không những vậy mà còn muốn những vị xuất gia và tại gia phải cung kính, cúng dường cho mình, phải tuyệt đối tin tưởng mình.  Phật nói những Bồ Tát ngu si này vì tài lợi để thuyết pháp, nếu không có lợi nhuận thì họ sẽ sanh tâm nhàm chán mệt mỏi.  Những chỗ nào không lợi nhuận (cúng dường ít) thì không vừa lòng hợp ý, họ sẽ thấy rằng những chỗ này không có thú vị và sẽ không đến những chỗ này lần thứ hai nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ chuyên tìm cầu cúng dường, tìm cầu sự hầu hạ và sự cung kính của người khác, làm ra những chuyện quái gở; người xưa có nói ‘Hòa thượng bất tác quái, cư sĩ bất lai bái!’ (‘Ông sư không làm chuyện quái lạ thì cư sĩ không lại cúng kiếng!’).  Rõ ràng là không vì lợi ích của tất cả chúng sanh, không vì giúp đỡ tất cả chúng sanh liễu sanh tử xuất tam giới, không thể giúp đỡ chúng sanh cải thiện hoàn cảnh sinh hoạt, đây đều là những người mà Phật gọi là Bồ Tát ngu si, không có trí huệ, tạo ra nghiệp tội, quả báo đều ở trong tam đồ (ba đường ác).</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>4. Dùng tâm không hy vọng (mong cầu) để thuyết pháp:</em></p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên đức Phật trong kinh nói với chúng ta rõ ràng, phàm là có tâm mong cầu cho dù là vì chúng sanh mà thuyết pháp thì pháp đó cũng không thanh tịnh, pháp đó nói thật ra là ‘bất như pháp’ (pháp không đúng).  ‘Bất như pháp’ nghĩa là kinh điển thì không sai mà họ nói pháp lại sai, những gì họ nói ra đều không phải ý của Phật.  Họ không ‘nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa’ mà là ‘giải sai Như Lai chân thật nghĩa’, tội nghiệp này rất nặng!</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>5.  Không dùng tâm tham ô để thuyết pháp:</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phật tuyệt đối không nói tâm tham ô có thể giúp đỡ chúng sanh?  Mình còn độ không nổi cho chính mình thì làm sao độ được người khác?  Chữ tham mà Phật nói ở đây là chỉ tham, sân, và si.  Chữ ô là nhiễm ô, ngày nay chúng ta nói là tâm lý ô nhiễm, tinh thần, tư tưởng, và kiến giải ô nhiễm.  Tự mình có sự ô nhiễm trầm trọng như vậy làm sao có thể giúp đỡ người khác?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>6.  Không lấy sự cung kính, cúng dường, và mưu cầu cho thân này an lạc làm sự lợi ích chân thật .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phật không nói (khuyến khích) sự hưởng thụ các thứ cung kính, tôn trọng, cúng dường, và hưởng thụ ngũ dục lục trần; không những kinh điển Tiểu Thừa không có, kinh điển Ðại Thừa cũng không có, huống hồ là dùng những thủ đoạn và phương pháp lường gạt để mưu cầu những sự hưởng thụ này. Chuyện này thì Phật tuyệt đối không cho phép làm, chúng ta nhất quyết không làm những chuyện này.  Không những không thể làm, cái tâm niệm tham này cũng không thể có, tại sao vậy?  Tại vì nếu có những tâm niệm như vậy nhất quyết không vãng sanh được; cho dù bạn một ngày niệm một trăm bộ kinh, niệm một triệu danh hiệu Phật, cổ đức có nói: ‘Hét bể cổ họng cũng luống công’, bạn nghĩ là bạn có thể vãng sanh sao?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>7.  Dùng tụng kinh niệm Phật để đè nén vọng niệm.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tụng kinh niệm Phật chỉ là phương pháp, mục đích của nó là để làm cho tâm thanh tịnh; dùng phương pháp này đem những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước niệm mất hết, niệm cho tâm thanh tịnh hiện ra; tâm tịnh thì cõi tịnh, như vậy mới có thể vãng sanh.  Xin chớ đem ý tưởng nghĩ sai đi, đừng tưởng là niệm cho nhiều Phật hiệu mới được vãng sanh, vừa niệm Phật mà còn sanh tâm tham, sân, si, mà còn lập mưu kế để làm hại kẻ khác, như vậy có thể vãng sanh được sao?</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Phải nên biết rằng, dùng phương pháp này để niệm mất hết những phiền não, vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước, để cho tâm thanh tịnh và tâm từ bi hiện ra thì mới có thể vãng sanh</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên khi chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động phải đem so sánh với những gì Phật đã dạy trong kinh.  Tại sao Phật Bồ Tát dạy chúng ta phải làm công phu sáng và tối?  Tôi đã nói với chư vị nhiều lần về ý nghĩa của việc này, khóa sáng và tối là dùng để ‘trị bịnh’; hồi xưa khóa công phu sáng tối là mỗi cá nhân tự làm. Lúc Phật còn tại thế và lúc Phật Pháp mới truyền đến Trung Quốc, đại chúng tập hợp tu tập chung là để nghe kinh, nghiên cứu, thảo luận cũng như vào lớp học nghe giảng; tu hành thì mỗi cá nhân tu hành riêng rẽ chứ không có hợp lại tu tập chung, chỉ khi nghe kinh, nghiên cứu, và thảo luận mới tụ hội lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Tịnh Ðộ Tông, người đề xướng đầu tiên việc tụ hội lại để tu tập chung là Huệ Viễn đại sư.  Ngài kiến lập Niệm Phật Ðường tại Lô Sơn, có 123 người đồng chung chí hướng hợp lại để tu niệm.  Các môn phái khác thì chưa có mãi đến sau đời Ðường mới bắt đầu phổ biến.  Ðúng ra là hai vị đại sư Bách Trượng và Mã Tổ đề xướng xây dựng tòng lâm.  Xây dựng tòng lâm là chủ trương không những phải học chung mà còn phải tu tập chung nữa.  Cho nên chế độ tòng lâm là đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc [sau đời Ðường], trong đó đại chúng tập hợp lại cùng nhau tu tập.  Cùng nhau tu tập có ích lợi gì?  Tức là nương dựa vào đại chúng, mỗi người riêng rẽ có lúc sẽ làm biếng giải đãi, khi đại chúng ở chung với nhau bắt buộc mỗi người không dụng công tu hành không được; mỗi người trong đại chúng khích lệ và đốc thúc lẫn nhau, ai cũng không dám lười biếng.  Cùng chung tu tập là có mục đích và ý nghĩa này!</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên chế độ tòng lâm đối với chúng sanh thời mạt pháp rất có ích lợi; một người riêng rẽ thì dễ làm biếng giải đãi và dễ thoái chuyển; nhưng đại chúng ở chung một chỗ để tu tập chân chánh có nhiều thuận lợi hơn nên mới lập ra công khóa (buổi tu chung) sáng và tối.  Nội dung của khóa tu sáng tối là xem chúng ta có bịnh gì phải dùng thuốc gì để chữa trị.  Những kinh để tụng trong khóa sáng tối ngày xưa không còn thích hợp cho ngày nay nữa; nói cách khác những kinh này có thể trị bịnh cho người thời xưa nhưng trị không nổi bịnh của người hiện nay.  Vậy thì phải làm sao?  Phải tìm ra bịnh hiện nay của chúng ta là bịnh gì, cần dùng thuốc gì để chữa trị.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay chúng ta tu Tịnh Ðộ, tụng kinh A Di Ðà rất tốt nhưng quá ngắn, ý nghĩa quá sâu; có thể bạn sẽ nói kinh A Di Ðà rất dễ hiểu, không sâu lắm, bạn thử xem chú giải của Ngẫu Ích đại sư và chú giải của Liên Trì đại sư, bạn sẽ rất kinh ngạc mà biết rằng kinh A Di Ðà rất thâm sâu, còn sâu hơn kinh Vô Lượng Thọ.  Cho nên hôm nay chúng ta chọn kinh Vô Lượng Thọ để tụng trong buổi công khóa sáng và tối.  Hãy đọc kinh và nên thường nghĩ đến trong kinh Phật dạy chúng ta làm thế nào, chúng ta có làm được không?</p>
<p style="text-align: justify;">Khóa tối là để phản tỉnh; nếu đã làm được thì phải tự khích lệ và tự nhủ ngày mai phải làm cho tốt hơn; nếu chưa làm được thì phải tìm cách để làm cho bằng được, y theo lời dạy mà tu hành, đó mới là công khóa sáng tối, công phu như vậy mới có công đức chân thật.  Không phải là buổi sáng niệm một lần cho Phật, Bồ Tát nghe, buổi tối lại niệm thêm một lần cho Phật, Bồ Tát nghe, không có tí gì liên quan đến hành vi sinh hoạt của mình, như vậy tội nghiệp sẽ nặng lắm, phải đọa địa ngục A Tỳ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi gặp vua Diêm La bạn mới hỏi: ‘Mỗi ngày tôi đều tụng kinh sáng tối không sót ngày nào, tại sao ông lại bảo tôi phải đọa địa ngục A Tỳ?’  Vua Diêm La sẽ nói với bạn: ‘Mỗi buổi sáng bạn gạt Phật một lần, buổi tối lại gạt thêm lần nữa, gạt cả đời luôn, bạn không đọa địa ngục, ai đọa địa ngục?’  Phải biết nếu không hiểu rõ ý nghĩa của buổi công khóa sáng tối thì đó đều là nghiệp nhân của địa ngục A Tỳ; bạn gạt Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát không có trong thế gian, hình tượng bằng đất bằng gỗ bạn cũng nhẫn tâm gạt được, vậy thì tâm bạn quá tàn nhẫn!</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian trôi qua thiệt nhanh, buổi giảng ngày hôm nay là buổi chót, lần sau ở đây có cử hành Phật Thất, xin mời các bạn đồng tu tham dự.  Ba ngày nay chúng ta thảo luận những vấn đề này có liên hệ rất chặt chẽ đối với sự tu học và sanh hoạt của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>F. CHÁNH PHÁP TUYỆT ÐỐI TƯƠNG ỨNG VỚI LỢI ÍCH CHÂN THẬT.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Ðầu tiên chúng ta phải thể nhận trong sinh hoạt của thời đại hiện nay tu hành rất khó khăn, đúng như đức Thế Tôn có nói trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm rằng ma chướng quá nhiều; những gì mắt chúng ta thấy được, tai nghe được, phàm tất cả những gì trái ngược với tâm thanh tịnh của chúng ta đều thuộc về ma chướng.  Cho nên Phật dạy trong kinh rất hay, năm xưa khi Phật còn tại thế lúc giảng kinh thuyết pháp có một số nguyên tắc, những nguyên tắc này đương nhiên là giáo giới cho Bồ Tát và hy vọng người đời sau cũng có thể tuân theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tắc thứ nhất, tất cả pháp mà Phật nói ra hoàn toàn tương ứng với sự lợi ích chân thật, và cũng là nói Phật giúp chúng ta có thể đạt được những lợi ích này trong đời sống hàng ngày.  Nếu có thể đem lại sự lợi ích trong hiện tại mà không có lợi ích cho đời sau nữa thì Phật nói đó không phải là lợi ích chân thật.  Lợi ích chân thật là đời này có được lợi ích và trong nhiều đời sau cũng có lợi ích.  Chư Phật Bồ Tát tuyệt đối không nói những gì trái ngược với nguyên tắc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ý nghĩa của câu này rất sâu, vì ngoài Phật ra, trong thời đại hiện nay giống như trong kinh Lăng Nghiêm có nói: ‘Tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng’; pháp của tà sư nói đương nhiên không phải là chánh pháp, tại sao có nhiều người tin theo?  Có nhiều người ủng hộ như thế?  Trong đó nhất định phải có đạo lý của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu dựa trên sự lợi ích mà nói, số tà sư này có thể giúp bạn hiện thời đạt được lợi ích trước mắt, nhưng nhất định không thể bảo đảm bạn đời sau cũng có lợi ích như vậy.  Chúng ta hãy bình tĩnh mà quan sát, không phải là khó hiểu, hiện tiền có thể giúp cho bạn đạt được danh văn lợi dưỡng (danh lợi hưởng thụ), làm thỏa mãn lòng tham, sân, si, kiêu mạn, và phiền não của bạn, chắc bạn cũng rất vui thích vì những gì bạn mong muốn đều có thể đạt được.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiệt tình mà nói, nếu trong sanh mạng của chúng ta không có những thứ phú quý giàu sang, không có những danh lợi đó, những tà sư này có thể giúp chúng ta đạt được không?  Nói cho quý vị biết, tuyệt đối không thể được.  Giả sử họ có thể giúp chúng ta đạt được, thì năng lực của họ vượt hơn luật nhân quả rồi; họ có thể đạp đổ định luật nhân quả chăng?  Chư Phật, Bồ Tát còn không làm được, họ làm sao có thể làm được!</p>
<p style="text-align: justify;">Từ đó có thể biết được, cho dù họ dùng mọi phương pháp để làm như là họ giúp chúng ta đạt được vậy, thiệt ra đó đều là những gì trong mạng chúng ta đã có sẵn; chân tướng sự thật là ‘<em>nhất ẩm nhất trác, mạc phi tiền định’, </em>tạm dịch là<em> ‘một miếng ăn, một miếng uống đều đã có định trước</em>’.  Phàm là những người có đầu óc bình tĩnh một chút đều có thể thấy được những sự thật này; những tín đồ, tín chúng theo họ có phải là người nào cũng có thể đạt được danh lợi hưởng thụ như vậy hết sao?  Không hẳn thế, chỉ có một ít người có thể có được thôi; nếu nói mọi người đều đạt được thì đó mới là thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ có một số người đạt được mà người khác không đạt được, thì đó chưa chắc là thật; những người đạt được là cơ duyên của họ chín muồi, nghiệp nhân thành thục, quả báo hiện ra, chỉ là chuyện như vậy mà thôi.  Từ đó có thể biết không phải là năng lực của họ (những tà sư) làm được.  Họ có thể biết được quả báo của bạn lúc nào sẽ hiện ra, họ có những năng lực (thần thông ) nhỏ này, họ có thể biết được khi nào vận may của bạn đến, biết được khi nào bạn sẽ được thăng quan lên chức, khi nào sẽ phát tài; nương vào nhân duyên của bạn họ nói là họ đến gia trì và phò hộ cho bạn, bạn mắc lừa rồi, kiếp sau nhất định phải đọa ba đường ác.  Cho nên đây không phải là lợi ích, không tương ứng với lợi ích chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta mong cầu sự phú quý ở thế gian, không phải là cầu không được.  Có câu nói là: ‘<em>Trong nhà Phật có cầu thì sẽ có cảm ứng</em>’, điều này là thật đó, không phải giả, vậy thì phải cầu như thế nào mới được?  Sự mong cầu này nhất định phải như lý, như pháp và có lý luận phương pháp đàng hoàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên mặt lý mà nói thì phải có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, và tâm đại từ bi.  Trên mặt sự mà nói là điều Phật dạy chúng ta: <em>bố thí</em>.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bố thí tài vật là trồng nhân, được giàu có là quả báo, cho nên</em> <em>chúng ta muốn giàu có thì phải tu bố thí tài vật.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nếu bạn muốn thông minh trí huệ, bạn phải biết tu bố thí pháp.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nếu bạn muốn khoẻ mạnh sống lâu, bạn phải biết tu bố thí vô uý (giúp cho người ta không lo sợ ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phật dạy chúng ta tu nhân gì thì được quả đó, đây là tương ứng; không những tương ứng với lợi ích chân thật, đối với pháp cũng tương ứng; đúng như lý, như pháp thì không có gì là cầu không được.  Nếu chúng ta mong cầu nhưng không được mãn nguyện, đây là vì lý do gì?  Là tại nghiệp chướng gây ra trở ngại và làm chúng ta không được mãn nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy thì phải làm sao?  Phải tìm ra nghiệp chướng và tiêu trừ nó thì sẽ được mãn nguyện.  Lý luận, sự thật và phương pháp mong cầu này đức Phật đã nói qua rất nhiều trong kinh điển.  Các vị đã đọc kinh Vô Lượng Thọ rồi, trong đó nói rất đầy đủ; đọc thuộc rồi lúc nào có cơ hội quý vị nên nghiên cứu thảo luận nghĩa lý trong kinh, làm thế nào để áp dụng vào trong đời sống và công việc hàng ngày của chúng ta, làm thế nào để vận dụng những nguyên lý và nguyên tắc này, như vậy mới gọi là tu hành chân chánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên phải tương ứng với lợi ích, với pháp, với lý luận phương pháp, càng quan trọng nhất là phải tương ứng với sự đoạn dứt phiền não.  Những pháp gì ma thuyết ra tuyệt đối không có những thứ này; ma không dạy bạn đoạn phiền não, ma khuyến khích bạn tăng trưởng tham, sân, si, và [kiêu] mạn;  ngược lại, chư Phật Bồ Tát dạy bạn xa lìa phiền não, diệt tận phiền não.</p>
<p style="text-align: justify;">Xa lìa phiền não thì công phu tu hành của bạn sẽ được đắc lực; diệt tận phiền não, bạn mới có thể chứng quả, và cũng có nghĩa là bạn mới đạt được đại viên mãn, mới được đại tự tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời mạt pháp hiện nay của chúng ta, chư Phật Bồ Tát trở lại thế gian này (tái lai) cũng có, không phải là không có, nhưng không phải dùng một thân phận vai trò nhất định nào, có khi là dùng thân phận của một vị pháp sư xuất gia, có khi là thân phận của một vị tại gia cư sĩ, trưởng giả; những người này nhất định phải khuyên bạn niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, tại sao vậy?  Tại vì đây là sự lợi ích rốt ráo viên mãn nhất.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nếu đời này không thể vãng sanh, không kể là bạn tu học pháp môn nào, bạn không có biện pháp gì để thoát ly lục đạo luân hồi, cũng có thể nói là bạn không có năng lực để đoạn ‘kiến tư phiền não’.  Không thoát ra khỏi luân hồi, nhất định là thời gian ở trong ba đường ác lâu dài hơn thời gian ở trong ba đường thiện; đây là điều mà chúng ta không thể không cảnh giác!</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phật dùng thân để làm gương và thuyết pháp cho tất cả chúng sanh.  Căn tánh của chúng sanh không đồng đều với nhau, cho nên Phật nói ra rất nhiều pháp môn để tùy theo căn tánh của mỗi người mà giúp cho họ thành tựu; đây là lý do mà Phật nói ra pháp môn và kinh điển nhiều như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Ðại Tập đức Phật có dạy cho hậu thế rất rõ ràng, Phật nói <em>trong thời Chánh pháp thì Giới Luật thành tựu</em>; Chánh pháp là thời gian một ngàn năm sau khi Phật diệt độ; <em>trong thời kỳ Tượng pháp thì Thiền Ðịnh thành tựu</em>; Phật giáo truyền đến Trung Quốc nhằm ngay thời kỳ Tượng pháp, cho nên Thiền định thành tựu tại Trung Quốc đích thực là rất huy hoàng hưng thịnh.  <em>Trong thời Mạt pháp thì Tịnh Ðộ thành tựu</em>; hiện nay không kể là tính theo sự ghi chép của lịch sử Trung Quốc hoặc là sự tính toán của những nước khác, 2000 năm sau khi Thế Tôn diệt độ là thời Mạt pháp, trong thời Mạt pháp thì tu Tịnh Ðộ dễ thành tựu, đây là lời Phật nói (trong kinh Ðại Tập).  Cho nên tất cả chư Phật Bồ Tát nếu nương theo nguyện để trở lại thế gian này, nhất định là sẽ khuyên mọi người niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>G. BỐN NGUYÊN TẮC ÐỂ PHÂN BIỆT CHÁNH VÀ TÀ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: ‘Tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng’; Dựa vào đâu để phân biệt chánh và tà?  Ngược lại với bốn nguyên tắc mà Phật thuyết pháp là tà, là của ma nói.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>1.  Tuyệt đối cùng lợi ích không tương ứng</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðây là ma nói.  Nói một cách khác những pháp nào mà khi học xong thật sự là không có lợi ích, không có lợi ích tức là có tổn hại; tổn hại chỗ nào? Chúng ta không cần phải nói ra, quý vị suy nghĩ thử xem, cũng dễ thấy thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2.  Tức là tương ứng với phi pháp.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ðối chọi và tương phản với những gì Phật nói.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>3.  Nhất định là tương ứng với phiền não.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn tu học theo phương pháp của họ (ma), không những là không thể tiêu trừ phiền não, mà càng ngày càng tăng trưởng phiền não, tăng thêm tham, sân, si, mạn, tăng thêm đố kỵ, tăng trưởng thêm sự tạo tội nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>4.  Tuyệt đối tương ứng với sanh tử.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có thể nói là họ không chủ trương thoát ly ra khỏi luân hồi, họ dạy người sau khi chết đi mau mau trở lại làm người.  Sau khi chết đi, bạn muốn làm người thì có thể được thân người sao?  Không hẳn là vậy, lời Phật nói là thật đó; Phật tỉ dụ sau khi người chết đi đời sau có thể được thân người trở lại nhiều cũng như đất trong móng tay, không được thân người trở lại nhiều như đất trên địa cầu này.  Cho nên người ta mất đi thân người đời sau có lại được thân người hiếm có như ‘lông phụng sừng lân’, không phải ai cũng có thể có thân người lại được.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người nào mới có thể được thân người trở lại?  Trong kinh Phật nói rất nhiều, phải giữ tròn ngũ giới thập thiện thì mới được thân người trở lại.  Ngũ giới là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.  Thập thiện là thân có ba, miệng bốn, ý ba, (không sát sanh, không trộm cắp,  không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt, không tham, không sân, và không si) tôi ở đây không nói kỹ nữa.  Tự mình suy nghĩ kỹ lưỡng trong đời này ngũ giới và thập thiện của mình có thể làm được đến 80 điểm không (80 %).  Nếu được thì đời sau quyết định là không mất thân người; nếu không được 80 điểm thì đời sau không chắc là sẽ được thân người trở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên ma thuyết pháp thì tương ứng với sanh tử và sáu nẻo luân hồi.  Ma không dạy cho bạn thoát ly ra khỏi lục đạo.  Khi chúng ta tiếp xúc với tất cả chúng sanh, bạn bè thân quyến và những người quen cũng nên nói cho họ biết việc này, khuyên họ đoạn ác tu thiện, khuyên họ niệm Phật cầu vãng sanh.  Bạn nói những gì phù hợp tương đồng với bốn nguyên tắc này thì đều là chánh pháp; những gì trái ngược với bốn nguyên tắc này là tà pháp, đây là điểm chánh mà chúng ta nên nhớ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>H. HẠNH TỐT VÀ HẠNH XẤU</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể thấy trong kinh điển Ðại thừa, chư Bồ Tát thị hiện trong thế giới này mang rất nhiều hình thức; thị hiện làm những hạnh tùy thuận với pháp tánh thì không có vấn đề gì hết, chúng ta sẽ không hoài nghi và y giáo phụng hành.  Nhưng có khi cũng thị hiện tùy thuận theo hạnh xấu, chúng ta sẽ không dễ phân biệt ra được, đây là điều mà chúng ta không thể không để ý đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Thị hiện hạnh xấu thí dụ như phá giới hoặc là cố ý thị hiện ra rất nhiều hành vi tội ác.  Sự thị hiện này nhất định phải có nhân duyên đặc biệt của họ, đó là để độ một số đối tượng đặc biệt mà sẽ không tùy tiện thị hiện trong phần đông quần chúng; nếu bạn có thể nhận biết được điều này thì bạn đã có trí huệ khá lắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Những chuyện thị hiện này từ xưa đến nay cũng thường nghe đến; nếu có cơ duyên đặc biệt bạn cũng có khi gặp được.  Phật có lời dạy đặc biệt riêng cho những trường hợp này.  Phật cử ra một thí dụ trong kinh Hoa Nghiêm, trong 53 cuộc tham vấn của Thiện Tài đồng tử có một số Bồ Tát tùy thuận theo phiền não.  Phật gọi những vị này là ‘Huệ Hạnh Bồ Tát’, không phải là Bồ Tát sơ cấp (sơ học).  Bồ Tát sơ cấp không có năng lực này; tại sao vậy?  Bồ Tát sơ cấp còn chưa đoạn dứt được tập khí của tham, sân, si, và mạn; nếu họ tạo ra những ác nghiệp này thì nhất định phải đọa vào ba đường ác.</p>
<p style="text-align: justify;">Huệ Hạnh Bồ Tát là những hạng người như thế nào?  Những Bồ Tát đã hoàn toàn phá hết 4 tướng (ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, và thọ giả tướng) và 4 kiến (ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, và thọ giả kiến ) nói trong kinh Kim Cang.  Ðây là hạng người nào?  Ðó là Pháp Thân Ðại sĩ mà trong kinh thường nói đến chứ không phải là người thường.  Họ thị hiện ra những ác hạnh nhưng trong tâm họ không có, vì độ chúng sanh họ có thể mở rộng cửa phương tiện và không bị gò bó chút nào. Tâm của họ thanh tịnh, một tí bụi bậm cũng không nhiễm, họ có bản lãnh này.</p>
<p style="text-align: justify;">Người Trung Quốc phần đông đều biết hồi xưa có vị Tế Công trưởng lão (người Việt thường nói đến với cái tên là Tế Ðiên Hòa Thượng).  Bạn thấy hành vi của Tế Công hình như là không giữ giới luật và cũng không giữ thanh quy (của nhà chùa), mà còn đặc biệt thích ăn thịt chó.  Ðích thật là có người Tế Công này, nhưng không giống như sự miêu tả trong tiểu thuyết, chuyện tiểu thuyết viết không chịu trách nhiệm.  Thế thì ông Tế Công này có những hành vi như vậy không?  Trong Cao Tăng Truyện thật có ghi ổng ăn thịt chó và uống rượu, vả lại truyện Tế Công trong Cao Tăng truyện rất dài, dài hơn truyện ký của những vị pháp sư khác; hình như có đến bốn năm quyển, đó là chuyện thật không phải là tiểu thuyết.  Chuyện này ghi lại những sự tích của một vị A La Hán ứng hóa thị hiện ở đời chứ không phải người phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài độ những hạng người mà một số người trì giới, giảng kinh, niệm Phật đàng hoàng trong chúng ta không có khả năng độ được, thành tựu được vô lượng công đức; tâm địa của ngài thanh tịnh, không bị phiền não trói buộc, ngài có khả năng này.  Chúng ta không thể học theo những người giống như vậy, chúng ta chỉ có thể khâm phục, cung kính, và tán thán, tuyệt đối không được bắt chước; nếu bạn bắt chước và đọa tam đồ thì ngài không chịu trách nhiệm!</p>
<p style="text-align: justify;">Gần đây vào những năm đầu thời Dân quốc, xuất hiện một vị rất giống Tế Công trưởng lão; đó là pháp sư Diệu Thiện ở chùa Kim Sơn, ở Chấn Giang, Giang Tô; người ta xưng ngài là ‘Phật sống Kim Sơn’, hành vi của ngài cũng rất giống Tế Công vào thời nhà Tống.  Cách thức thị hiện này là ‘nghịch hạnh’; bạn xem ngài mỗi ngày không tụng kinh công khóa sáng tối, từ đó đến nay không thấy ngài niệm cuốn kinh nào hết, và cũng không thấy ngài tụng giới qua lần nào, cả ngày từ sáng đến tối cười ha hả lẫn lộn trong nhóm cư sĩ, cùng nhau ăn uống, không có câu nệ gì hết.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài có thể dạy cho người ta khâm phục, mọi người đều xưng ngài là ‘Phật sống’ và rất cung kính ngài; bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, ngài chỉ mặc một cái áo mỏng, mùa đông không thấy lạnh, mùa hạ cũng không thấy nóng, đây thiệt rất lạ lùng.  Áo của ngài cũng không có giặt, cả đời cũng không tắm rửa qua mà trên thân thể không có mùi hôi, không những không hôi mà trên mình của ngài lại có mùi thơm; ngài không phải là người thường; chúng ta học theo ngài không được, điều này là thiệt đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong xã hội hiện nay, có rất nhiều người giả mạo những thánh nhân này, họ cũng không câu nệ gò bó, nhưng bạn thử xem xét kỹ mùa đông họ có mặc áo lạnh không?  Nếu mùa đông họ chỉ mặc một cái áo mỏng, thì đó là thứ thiệt; nếu mùa đông mặc áo dày thiệt dày thì không phải là thứ thiệt.  Mùa hè coi họ có thể mặc áo bằng da không?  Ăn uống có thể nào không phân biệt không?  Không phân biệt sạch dơ tất cả đều ăn hết.  Nếu họ làm những sự việc này không được, rất có thể họ chỉ là người giả mạo mà thôi.  Ðây là điều chúng ta phải để ý, phải cẩn thận, học Phật không thể để cho người khác gạt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hình dáng có thể gạt người, ngôn từ có thể gạt người, viết thành sách cũng có thể gạt người, phải nên cẩn thận.  Trong thời đại hiện nay, tự do ngôn luận, tự do xuất bản, không có hạn chế, không giống như hồi trước.  Bạn hãy xem triều đại trước đời nhà Thanh, nếu bạn muốn xuất bản một cuốn sách, trong Phật giáo phải thông qua sự kiểm soát của quốc gia, không phải ai cũng có thể tự tiện đem sách vở đi lưu thông.  Những đại đức cao tăng đương thời thẩm tra xem qua không có vấn đề mới đem trình lên vua, được phê chuẩn xong mới được in ra, không tự do như bây giờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tự do có sự lợi ích của tự do, nhưng cũng có rất nhiều tệ đoan; tà tri tà kiến có đầy dẫy trong xã hội, người không có trình độ trí huệ cao muốn không bị những thứ này mê hoặc rất khó.  Ðây là khuyết điểm của tự do dân chủ.  Trong thời đại chuyên chế hồi xưa, hoàng đế thật sự là có gìn giữ tâm thanh tịnh cho nhân dân, ngăn ngừa không cho họ bị ô nhiễm.  Ông vua có trách nhiệm và sứ mạng này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Trung Quốc thời xưa, những người làm quan chánh vụ, cũng như chức ‘hành chánh thủ trưởng’ hoặc là huyện, thị trưởng ngày nay, họ cũng tuân thủ ba giới điều (giống như nguyên tắc).  Ba giới đó là chín chữ: ‘Tác chi quân, tác chi thân, tác chi sư’.  Ðây là sứ mạng và trách nhiệm của những vị quan này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiệm vụ của quân (vua) là lãnh đạo dân chúng trong nước, vua cũng như ông thị trưởng phải lãnh đạo dân chúng trong huyện thành phố đó.  ‘Tác chi thân’ là ông quan phải lấy tâm trạng của người làm cha mẹ để săn sóc cho dân chúng; người ta thường gọi ‘cha mẹ của dân’ hoặc là ‘phụ mẫu quan’; họ phải giúp đỡ làm cho đời sống của dân chúng được tốt đẹp hơn.  ‘Tác chi sư’ là ông quan còn phải làm thầy giáo và dạy dỗ người dân.  Cho nên ba sứ mạng của quan chánh vụ là ‘quân, thân, sư’.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời đại dân chủ ngày nay không có ba sứ mạng này; những người quan chánh vụ ngày nay được gọi là ‘đày tớ của nhân dân’.  Dân là người chủ, quan là tôi tớ, dân muốn quan làm gì thì quan phải làm chuyện đó.  Bạn thử nghĩ xem chúng ta muốn có một người quan như cha mẹ hay là một người quan như đày tớ trong nhà?</p>
<p style="text-align: justify;">Cha mẹ lo lắng cho con cái chu đáo nhất, người đày tớ làm việc cho bạn chưa chắc có thể tin được; cho nên rất nhiều người hỏi tôi: ‘Pháp sư tán thành chế độ dân chủ hay là chế độ quân chủ?’.  Tôi trả lời là quân chủ; tôi biết những ưu điểm của quân chủ thì nhiều hơn dân chủ và tệ đoan (của quân chủ) cũng ít hơn dân chủ.  Nếu quý vị đọc kỹ lịch sử thì sẽ hiểu rõ, đừng tưởng là làm vua rất ích kỷ; nói thật ra ích kỷ là điểm tốt của vua; ông vua phải luôn luôn để ý cẩn thận, luôn luôn phải lo đến sự lợi ích của bá tánh (dân chúng); nếu lơ là thì nhân dân sẽ nổi dậy lật đổ triều đình.  Nếu ông vua muốn được sự ủng hộ của toàn dân thì phải làm một ông vua tốt, thiệt là phục vụ cho quốc gia và nhân dân; như vậy thì dân mới ủng hộ vua, vua mới giữ vững triều đại được lâu dài, mới truyền đến mấy mươi đời, mấy trăm năm.  Cho nên chuyên chế không phải là không có ưu điểm, ngày nay tổng thống nhậm chức bốn năm thì không có tinh thần trách nhiệm như ông vua!</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lại vấn đề, mọi người chúng ta đều là Bồ Tát sơ cấp, điều thứ nhất mà Phật dạy chúng ta là phải biết sự lợi hại của danh lợi hưởng thụ (danh văn lợi dưỡng), nhất định là tiêm nhiễm không được.  Nhưng danh văn lợi dưỡng rất dễ mê hoặc người, đã có mấy người có thể xả ly được?  Nếu không thể tránh được những sự mê hoặc này, chúng ta muốn thành công trong một đời này thì quá khó.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật dạy chúng ta nên thiểu dục tri túc (muốn ít và biết đủ), dục vọng ít thì rất dễ thỏa mãn.  Chúng ta ngày nay một ngày ăn ba bữa; hồi Phật còn tại thế, một ngày chỉ có một bữa ăn.  Ba bữa ăn có thể ăn được no, áo mặc có thể mặc được ấm, có một căn nhà nhỏ để che mưa đỡ nắng, đời sống vật chất như vậy đủ rồi, phiền não ít, tâm mới có thể hướng về đạo.  Nếu tham muốn sự hưởng thụ thì nhất định sẽ tăng thêm tham, sân, si, mạn, tăng thêm phiền não và đánh mất chánh niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những thiện pháp mà Phật dạy, không những bạn làm không được, cho đến những ý nghĩa mà Phật nói đến, bạn cũng không thể hiểu được.  Cái mà Phật gọi là phước điền thù thắng bạn không có khả năng để lãnh hội được; phước điền thù thắng nghĩa là Tam Học (Giới, Ðịnh, và Huệ), Lục Ðộ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, và Bát nhã) và mười đại nguyện Phổ Hiền.  Tuy là bạn có thể nói ra được, thiệt ra bạn có tâm khinh mạn đối với những lời dạy của Phật, không chịu làm theo, khi khởi tâm động niệm, hành vi tạo tác đều tương ứng với ma, vậy làm sao thành công được?  Cho nên Phật dạy cho Bồ Tát mới bắt đầu học nhất định phải xa lìa danh lợi và hưởng thụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói đến đây, chúng tôi lại nhớ tới Liên Trì đại sư, ngài là một trong bốn vị đại sư đã có công trong việc phục hưng Phật giáo vào cuối đời nhà Minh; khi người đời sau nhắc đến Liên Trì đại sư thì không ai không tôn kính và không hâm mộ ngài hết.  Liên Trì đại sư nói lúc còn trẻ ngài đi tham học và rất ngưỡng mộ một vị cao tăng đại đức đương thời, Biến Dung lão hòa thượng.  Ngài thiệt là cung kính đi ba bước lạy một lạy đến trước mặt lão hòa thượng, và cung kính thỉnh cầu lão hòa thượng khai thị;  lão hòa thượng chỉ nói một câu:</p>
<p style="text-align: justify;">‘<strong><em>Ông nên nhớ kỹ đừng để danh văn lợi dưỡng làm hại đến</em>’</strong>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói xong liền kêu ngài đi về, đại chúng đứng ở ngoài mục kích chuyện này đều cười to cho rằng ngài Liên Trì từ xa ba bước một lạy đi đến đó, lão hòa thượng nhất định phải có diệu pháp cao siêu gì để dạy cho ngài, nào ngờ chỉ nói có một câu như vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">Liên Trì đại sư có tâm chân thành cung kính và đã tiếp nhận (lời khai thị trên).  Ngài nói với mọi người: ‘Lão hòa thượng rất đáng được người cung kính, luôn nói lời chân thật, không nói gì cao siêu huyền diệu để gạt người đời sau’, cho nên cả đời ngài tuân thủ theo lời dạy, sự thành tựu mà ngài có được cũng là nhờ câu nhắc nhở của lão hòa thượng, cả đời xa lánh danh văn lợi dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lời của Biến Dung lão hòa thượng rất giống với lời Phật dạy cho người sơ học, ở phía trước đã có nói qua, những người ‘phù hợp tương ứng với lợi ích, với pháp, với đoạn phiền não, với đại niết bàn’ là thiện tri thức chân chánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người ham muốn ít và biết đủ có rất nhiều lợi ích, rõ ràng nhất là họ giảm bớt được rất nhiều lỗi lầm, chúng ta biết được không những là người thế gian, mà người học Phật, người xuất gia có rất nhiều lỗi lầm; lỗi lầm này từ đâu phát sanh ra?  Là từ tham dục mà sanh ra đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>I. BA CƯƠNG LÃNH CHÁNH CỦA HÀNH MÔN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Vô Lượng Thọ đức Phật có dạy chúng ta ba cương lãnh chánh của hành môn (phương pháp tu hành):</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>1.</em> <em>Thiện hộ khẩu nghiệp, bất kế tha quá (Giữ gìn khẩu nghiệp, đừng để ý và nói đến  lỗi của người khác).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ðiều này bao hàm ý nghĩa vô cùng sâu rộng.  Trong ba nghiệp: thân, khẩu, và ý, đức Phật đem khẩu nghiệp để hàng đầu; tại sao vậy?  Tất cả chúng sanh tạo nghiệp dễ nhất là khẩu nghiệp.  Chúng ta nên biết khẩu nghiệp, trong đoạn trước có kể cho quý vị câu chuyện về người kiếm chuyện nói xấu pháp sư giảng kinh, ly gián thính chúng và pháp sư, phải đọa 18 triệu năm trong địa ngục A Tỳ; từ địa ngục ra phải trải qua năm trăm đời mù lòa, và còn không biết bao nhiêu đời phải chịu bần cùng hạ tiện, rồi mới khôi phục lại được thân người bình thường, cho nên mới biết tội báo của sự tạo khẩu nghiệp dễ sợ như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2</em>.  <em>Thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi (Giữ gìn thân nghiệp, đừng vi phạm luật lệ và mất tác phong)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>3. Thiện hộ ý nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm (Giữ gìn ý nghiệp, phải luôn thanh tịnh không nhiễm ô)</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ba câu trên là ba cương lãnh chánh của hành môn, chúng ta phải nhớ nằm lòng, những gì tất cả kinh luận nói đến đều là để giải thích rõ ba điều này, để dạy chúng ta phải luôn làm theo ba cương lãnh này trong đời sống, trong công việc, trong sự giao tế hàng ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">Phong trào tư tưởng của người hiện nay là phải mới hơn, phải thay đổi luôn, và phải mau chóng hoài.  Tư tưởng này trong Phật pháp có không?  Trong Ðại thừa Phật pháp có, nhưng rất khó, nếu sơ học Bồ Tát cũng có quan niệm này, yêu cầu mới, thay đổi, và tốc độ nhanh, nhiều khi đi lạc đường hướng cũng không biết.  Nếu vậy loại người nào mới có thể làm được?  Phật có nói Huệ Hạnh Bồ Tát, Pháp Thân Ðại Sĩ mới được, những vị này tâm thanh tịnh, trí huệ đã khai mở mới làm được.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm không thanh tịnh, trí huệ chưa khai mở, sanh hoạt trong phiền não mà đòi mới, đòi thay đổi không ngừng và nhanh chóng, những quan niệm này tuyệt đối có hại.  Cho nên Bồ Tát sơ cấp (sơ học) tốt nhất là phải đi theo con đường của những vị đại đức thời xưa đã đi qua; bạn nên biết Phật giáo truyền đến Trung Quốc được hai ngàn năm, hai ngàn năm trước ở Ấn Ðộ đã truyền hết một ngàn năm.  Trong ba ngàn năm này, phàm những ai đi theo con đường cũ, những ai thiệt thà ở trong khuôn phép cũ không ai là không thành tựu; nghĩ ra những điều tân kỳ mới lạ, chúng ta không thấy người nào thành tựu cả; điều này đích thực đáng cho chúng ta suy nghĩ và phản tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật pháp và thế gian pháp không giống nhau, lý luận và phương pháp đều không giống nhau, <strong>chúng ta có thiệt là muốn thoát ly sanh tử luân hồi ngay trong đời này không</strong>?  Ðây là điểm trọng yếu trong sự tu hành của chúng ta.  <strong>Nếu thiệt là muốn liễu sanh tử, thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, chúng ta phải coi trọng lời dạy của đức Phật; phải cầu giải (hiểu rõ), phải thực hành, phải nỗ lực gắng hết sức để làm, như vậy đời này ta mới có hy vọng thành công đượ</strong>c.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Phật dạy ta làm những gì ta phải hết lòng đi làm; Phật dạy chúng ta những gì không nên làm, chúng ta nhất định không làm, như vậy mới đáng là người con Phật, học trò giỏi của Phật; đừng nên làm một người chỉ mang danh là Phật tử mà không có thực chất của người Phật tử chân chánh</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>G. ÐIỂM QUAN TRỌNG CỦA HÀNH MÔN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Làm người con Phật có ba điều quan trọng phải làm trong đời sống hàng ngày, không thể làm thiếu được:</p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>1. Thứ nhất là đọc tụng.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ðọc kinh là cầm kinh trước mặt mà đọc.  Khi bạn học thuộc lòng rồi, không cần coi kinh cũng có thể nói ra thì gọi là tụng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðọc và tụng có mục đích gì?  Không quên lời dạy của Phật, luôn luôn ghi nhớ lời dạy này trong lòng, nhớ những gì nên làm và những gì không nên làm.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>2.  Thứ hai là tu hành.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tu hành là lúc chúng ta khởi tâm động niệm, nếu tâm niệm này Phật không cho thì khi khởi lên chúng ta phải lập tức đem nó đổi trở lại.  Tu là sửa đổi, hành là hành vi.  Tư tưởng, kiến giải, hành vi, lời nói nếu có lỗi lầm (lỗi lầm này là lấy lời dạy của Phật làm tiêu chuẩn) thì đem những lỗi lầm này sửa đổi lại, đó gọi là tu hành.  Cho nên tu hành là tu ở chỗ khởi tâm động niệm, ở trong lời nói hành động, phải thường giác ngộ, phải biết được lỗi lầm của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong nhà Phật chúng ta thường nói đến ‘khai ngộ’, có rất nhiều người tưởng khai ngộ là cái gì rất huyền diệu, rất cao siêu, không thể tưởng tượng được.  Thiệt ra tất cả đều là gạt người hết.  Cái gì gọi là ‘khai ngộ’?  Tôi biết lỗi lầm của tôi, biết tật xấu của tôi, tôi giác ngộ (biết được), đó gọi là ‘khai ngộ’.  Nếu bạn có rất nhiều lỗi lầm mà tự mình không biết, đó là bạn mê hoặc điên đảo; nếu bạn biết được lỗi lầm của mình thì bạn đã ‘khai ngộ’.  Ðem những lỗi lầm này sửa đổi lại gọi là ‘chân tu’, thế mới gọi là ‘tu hành’.</p>
<p style="text-align: justify;">Cung kính người thiện, ưa thích chuyện thiện, ca ngợi chuyện tốt của người, đây gọi là ‘đức’; tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, đại từ đại bi, gọi là ‘đắc đạo’.  Tất cả đều ở trong đời sống bình thường hàng ngày, đâu có gì huyền diệu và kỳ lạ?  Cho nên phải hết sức hiểu rõ, kiểm điểm, và phản tỉnh, sửa đổi lại hành vi, phải làm mỗi ngày, bất cứ lúc nào cũng phải luôn luôn ghi nhớ và làm theo.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em> 3. Thứ ba là diễn thuyết cho mọi người biết</em></p>
<p style="text-align: justify;">Diễn là biểu diễn, chữ này được dùng rất nhiều trong những buổi nói chuyện của chúng ta.  Phật Bồ Tát là gương tốt nhất cho chúng sanh hữu tình trong chín pháp giới.  Họ đều là gương tốt nhất cho chúng ta bắt chước theo.  Họ biểu diễn cho chúng ta xem; biểu diễn những gì?  Ðây không phải là biểu diễn ở trên sân khấu, mà là biểu diễn trong đời sống, trong công việc, trong sự đối đãi tiếp xúc với người và sự việc, trong lời nói và hành vi.  Làm gương cho người khác noi theo, để cho người ta nhìn thấy thì sanh tâm cung kính, ngưỡng mộ, và bắt chước theo, đây gọi là ‘diễn’.</p>
<p style="text-align: justify;">‘Thuyết’ là giảng kinh thuyết pháp, sự giảng kinh thuyết pháp này có phạm vi rất rộng lớn.  Trong kinh thường nói không phải kêu bạn giảng toàn bộ kinh, bất kể khi gặp người nào thì giảng một câu kinh, nửa bài kệ (hai câu kệ) khuyên người ta; khi thiện căn chín muồi thì khuyên người niệm Phật, nếu thiện căn không đầy đủ thì khuyên người ta dứt ác tu thiện, tự cầu phước đức cho mình (cho người đó).</p>
<p style="text-align: justify;">Thí dụ khi bạn bè gặp nhau, bạn hỏi họ muốn phát tài không?  Tôi biết phương pháp để phát tài, bạn muốn nghe không?  Phát tài là chuyện ai cũng muốn nghe, mới nói thì ai cũng có hứng thú muốn nghe liền.  Làm sao để phát tài?  Tu bố thí tài thì được giàu có, phạm vi của bố thí tài rất rộng, không phải kêu bạn đem tiền tài đi quyên cho người khác mới gọi là bố thí tài; đó là hiểu sai rồi.  Bố thí tài là dùng tài vật một cách thích đáng để làm lợi ích cho xã hội, cho mọi người, đây là bố thí một cách chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba thứ trên đây là chuyện Phật thường hay nói đến trong kinh điển: ‘<em>thọ trì, đọc tụng, diễn thuyết cho người khác biết</em>’, chúng ta phải hiểu được ý của Phật, phải biết làm cách nào mới có thể đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.  Còn một chuyện quan trọng mà trong kinh thường nói, đó là ‘chúng vụ’, lỗi lầm liên quan đến việc này cũng rất lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">‘Chúng vụ’ là gì?  Thích làm việc, thích kinh doanh và tạo ra thật nhiều sự nghiệp, Phật nói đó là lỗi lầm.  Trong kinh Phật đã từng nói qua, Phật cử ra một thí dụ ‘Nếu có Bồ Tát’, Bồ Tát này là Bồ Tát không có trí huệ, kinh doanh rất nhiều sự nghiệp, tôi cử ra một thí dụ, thí dụ như làm ra bảo tháp, điều này có ý giống sự xây dựng đạo tràng;  Người xưa thường nói tạo tháp cúng Phật thì phước báo vô biên; đức Phật nói người này tu phước cho dù tạo ra tháp bằng bảy báu ở khắp tam thiên đại thiên thế giới, Thế Tôn nói: ‘Ta gặp vị Bồ Tát này sẽ không sanh tâm hoan hỷ, đó không phải là chân chánh cúng dường ta, và cũng không phải là cung kính đối với ta’.</p>
<p style="text-align: justify;">Xem đoạn kinh này, chúng ta nhớ đến việc vua Lương Võ Ðế gặp Bồ Ðề Ðạt Ma, vị Tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Quốc.  Vua Lương Võ Ðế là đệ tử tại gia và đã thọ giới Bồ Tát.  Vua đã xây tổng cộng 480 ngôi chùa rất lớn và thích khuyên người đi xuất gia, vua đã độ tổng cộng đến mười vạn người xuất gia. Vua dùng oai quyền và tài lực của một ông vua để xây dựng chùa và cúng dường người xuất gia.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lương Võ Ðế cảm thấy rất tự hào về chuyện này, muốn khoe với Tổ Ðạt Ma và hỏi ‘Công đức của tôi lớn không?’.  Tổ Ðạt Ma là người thật thà, giống như trong kinh nói: ‘tâm thanh tịnh vì chúng sanh thuyết pháp’, nên trả lời rằng: ‘Không có công đức gì hết!’.  Vua Lương Võ Ðế nghe xong câu này thì không được vui, như bị tạt thau nước lạnh lên đầu, rất thất vọng nên nói: ‘Ðược rồi, tôi sẽ không hộ pháp cho ông’.  Vì thế Sơ Tổ Ðạt Ma phải lên chùa Thiếu Lâm ngồi đối mặt vào tường hết chín năm mới truyền y bát cho Tổ Huệ Khả!</p>
<p style="text-align: justify;">Giả sử năm xưa nếu Tổ Ðạt Ma có thể tùy thuận theo nhân tình và nói với vua Lương Võ Ðế: ‘Công đức của nhà vua rất lớn’ thì chẳng lẽ vua Lương Võ Ðế không hộ pháp cho Tổ Sư sao?  Nhưng một người chân chánh tu hành tuyệt đối không vì danh văn lợi dưỡng mà nói ngược lại chánh pháp.  Chuyện ngài nói là chánh pháp, cho nên vua Lương Võ Ðế xây 480 ngôi chùa mà không có công đức.  Trong kinh đức Phật nói nếu bạn xây tháp bảy báu khắp hết tam thiên đại thiên thế giới thì cũng không có công đức.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðạo lý ở chỗ nào?  Ðây là như phía trước có nói ‘Không phải là lợi ích chân thật’.  Ðây không phải là lợi ích chân thật, không như pháp, không thể liễu sanh tử, và cũng không thể chứng niết bàn, đối với những chuyện này không liên can!  Những chuyện này nói dễ nghe một chút thì là phước đức, phước đức hữu lậu của lục độ chúng sanh, không có dính líu gì với công đức hết.  Cho nên những pháp mà Thế Tôn dạy cho Bồ Tát đều nhất định phải phù hợp và tương ứng với ‘ba la mật’ (nghĩa của ba la mật là đến bờ bên kia, viên mãn, hoàn hảo). Việc xây bảo tháp khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng giảng cho người khác nghe bốn câu kệ, như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Cho đến thọ trì bốn câu kệ’, trong kinh Kim Cang có rất nhiều thí dụ như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh Vô Lượng Thọ nói còn hay hơn nữa:</p>
<p style="text-align: justify;">‘<em>Giả linh cúng dường Hằng sa thánh. Bất như kiên dũng cầu Chánh giác’,</em></p>
<p style="text-align: justify;">(<em>‘Nếu như cúng dường chư thánh nhiều như cát sông Hằng, cũng không bằng kiên quyết dũng mãnh cầu thành Phật</em>’ ).</p>
<p style="text-align: justify;">Hàng thánh của Tiểu thừa là A La Hán, của Ðại thừa là từ hàng ‘Ðịa’ Bồ Tát trở lên, Ðẳng giác Bồ Tát, và chư Phật Như Lai; bạn cúng dường những vị thánh nhân này số nhiều như cát sông Hằng, Phật nói không bằng niệm Phật cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới. Tại sao vậy?  Tại vì niệm Phật cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới là lợi ích chân thật, lợi ích vĩnh viễn, khi sanh đến Cực Lạc thế giới viên chứng tam bất thoái trong một đời sẽ thành Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù nói là không thành Phật, thời gian ở Cực Lạc thế giới làm Bồ Tát, bạn sẽ là A Duy Việt Trí Bồ Tát, bạn sẽ có trí huệ, thần thông, và năng lực để độ tận tất cả chúng sanh có duyên với bạn trong khắp hư không pháp giới, bạn sẽ có thể giúp đỡ họ; nếu bạn cúng dường Hằng sa thánh thì cũng chỉ là tu được một chút phước thôi, trí huệ và đức năng của bạn không thể hiện ra, bạn không những không thể độ chúng sanh, mà tự mình cũng không độ được; chuyện này Lục Tổ Huệ Năng nói rất hay: ‘<em>Sanh tử đại sự, phước không thể cứu được</em>’.  Cho dù phước lớn hơn nữa cũng không thể liễu sanh tử, bạn cũng không thể ra khỏi luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Muốn liễu sanh tử thoát khỏi luân hồi thì phải tu và tích lũy công đức mới được; trong các thứ công đức không có gì sánh bằng niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.  Tại sao tâm nguyện thù thắng của mình phát không được?  Phiền não tập khí còn rất nặng vẫn là đoạn dứt không đuợc; tâm vẫn không thể tịnh được, đây là vì nghiệp chướng tập khí của chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay quá nặng và gây ra chướng ngại cho chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta rất muốn tâm được thanh tịnh, rất muốn tương ứng với Phật, nhưng làm không được; làm không được tại sao gặp được pháp môn này?  Tại sao gặp được bộ kinh này?  Nói một cách khác, <em>chúng ta có thể gặp được pháp môn này và bộ kinh này, thiện căn, phước đức, nhân duyên của chúng ta đã thành thục (chín muồi)</em>. Sau khi gặp được, muốn làm mà làm không được, đây là tại vì nghiệp chướng sâu nặng, tuy là có đầy đủ nhân duyên nhưng còn một số chướng ngại, chỉ cần chúng ta dẹp xong chướng ngại này thì chúng ta sẽ thành công.</p>
<p style="text-align: justify;">Dùng phương pháp gì để dẹp tan chướng ngại?  Ðọc tụng.  Nếu có vài người bạn có cùng chung chí hướng khi gặp nhau nên thường nghiên cứu thảo luận; nhất định đừng có tự ái, hãy đem lỗi lầm của mình nói ra, phát lộ sám hối.  Hai ba người bạn cùng chung kiểm điểm thật tình để tìm ra sự sai lầm, tất cả cùng nhau nghiên cứu thảo luận để khắc phục những tập khí phiền não này.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiện căn, phước đức, và nhân duyên của chúng ta trong đời này vừa đúng lúc đã chín muồi, chỉ tại một chút chướng ngại này cản trở; đem dẹp chướng ngại này đi thì chúng ta sẽ thành công, quan trọng là ở chỗ này.  Cho nên phải ghi nhớ thật kỹ ba điều: ‘<em>Thọ trì, đọc tụng, diễn thuyết cho người khác biết</em>’.  Công đức này không biết lớn hơn gấp bao nhiêu lần việc vua Lương Võ Ðế xây dựng 480 ngôi chùa.  Ðức Phật nói nếu có người xây tháp bằng bảy báu đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới thì cũng không sánh bằng bạn đâu.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi lời nói của đức Phật đều là chân thật; chúng ta kể cả cá nhân của tôi mỗi người đều có rất nhiều tập khí và phiền não, muốn sửa đổi mà sửa không hết.  Tôi có một lợi điểm là mỗi ngày giảng kinh cho đại chúng, có rất nhiều cơ hội để phản tỉnh.  Nếu không diễn thuyết cho người khác, cơ hội để phản tỉnh của bạn ít đi; nếu thường khuyên người khác đương nhiên cũng là khuyên mình, đây có đạo lý nhất định.  Hy vọng là chúng ta nhắm vào phương hướng này, mục đích này, nỗ lực gắng sức thì ba ngày họp mặt này sẽ rất có ý nghĩa và có thể giúp chúng ta tiêu trừ rất nhiều chướng duyên ở trước mặt.  Biết phải tu hành như thế nào mới là công đức chân thật, mới là lời chân thật của Phật đã dạy cho chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.  Xin thành thật cám ơn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 6-15-2003</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>PHỤ LỤC</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Các bà nội trợ làm cách nào để tu Bồ Tát đạo ngay trong đời sống hàng ngày.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi ngày làm một số công việc lập đi lập lại hoài nhất định sẽ cảm thấy buồn chán, nhất là những bà nội trợ hình như vĩnh viễn cảm thấy không có ngày nào giải thoát ra được, rất nhiều người cảm thấy quá khổ não!  Nếu như có thể đem quan niệm này đổi ngược lại thì sẽ cảm thấy vô cùng sung sướng.  Trong quan điểm thông thường của phàm phu chúng ta có cái ‘ngã’ (tôi).  Tôi đang làm, tôi rất khổ, tại sao tôi phải làm cho họ hưởng?  Càng suy nghĩ phiền não càng nhiều.  Nếu học Bồ Tát đạo, phát nguyện phổ độ chúng sanh, thì cách nhìn cách suy nghĩ của họ sẽ khác liền.</p>
<p style="text-align: justify;">Hành Bồ Tát đạo đầu tiên là phải tu ‘bố thí ba la mật’.  Những bà ‘nội trợ Bồ Tát’ trong khi săn sóc lo lắng phục vụ cho mọi người trong gia đình là đang tu bố thí ba la mật đó.  Bố thí gồm có bố thí tài, bố thí pháp, và bố thí vô uý.  Bố thí tài có nội tài và ngoại tài.  Ngoại tài là kiếm tiền cúng dường nuôi duỡng người trong nhà.  Nội tài là dùng sức lực và đầu óc của mình phục vụ cho người trong nhà.  Làm việc nhà có đầy đủ hết ba loại bố thí này.  Nếu bạn sắp xếp dọn dẹp trong nhà được gọn gàng sạch sẽ làm cho mọi người trong nhà rất thoải mái dễ chịu, hàng xóm láng giềng phải hâm mộ khen ngợi, đây là ‘trì giới ba la mật’.  Trì giới nghĩa là giữ luật lệ.  Bạn có đủ nhẫn nại để làm, không cảm thấy mệt nhọc, đây là ‘nhẫn nhục ba la mật’.  Mỗi ngày phải cải tiến hy vọng là ngày mai sẽ được tốt hơn hôm nay, đây là ‘tinh tấn ba la mật’.  Tuy là mỗi ngày làm rất nhiều việc trong nhà, tâm địa vẫn thanh tịnh, một tí gì cũng không nhiễm, đây là ‘thiền định ba la mật’.  Tâm thanh tịnh thường sanh trí huệ, pháp hỷ sung mãn, đây là ‘bát nhã ba la mật’.  Như vậy thì biết rằng, tất cả lục độ ba la mật của Bồ Tát đều nằm trong sự lau bàn, quét nhà, giặt áo, nấu cơm, tất cả đều thành tựu viên mãn.  Ðây cũng giống như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử biểu diễn đi học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn đem công việc nhà làm được tốt đẹp tức là làm gương tốt cho tất cả bà nội trợ trên thế gian, cho tất cả gia đình.  Như vậy có thể độ được người hàng xóm, mở rộng ra thì có thể ảnh hưởng đến xã hội, quốc gia,  thế giới, cho đến tận hư không biến pháp giới.  Cho nên mới biết Bồ Tát ở nhà quét dọn, lau bàn, nấu cơm, giặt áo đều là đại nguyện đại hạnh độ tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới.  Ðây là học Phật, là chánh niệm, là thật tướng của chư pháp, nếu có thể quan sát như vậy thì sẽ đạt được pháp hỷ sung mãn (niềm vui của đạo) thì làm sao còn sanh phiền não nữa!  Học Phật nhất định phải đem thực hành trong đời sống sanh hoạt thường ngày, nếu không như vậy thì vô dụng.  Nếu hiểu được điểm này rồi từ đó suy ra, đi làm ở công ty thì cũng tu lục độ ba la mật.  Bồ Tát ở mọi ngành mọi nghề, thị hiện ra người nam, nữ, già, trẻ, thân phận vai trò không giống nhau, đều trong môi trường sinh hoạt của mình tu học, tất cả đều bình đẳng giống nhau, tất cả đều đứng hạng nhất, không có hạng nhì.</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/10-dieu-ghi-nho/" title="10 Điều Ghi Nhớ">10 Điều Ghi Nhớ</a> (0)<br /><small>1.Niềm tin  sâu

Chúng ta là những người tu học theo pháp môn Tịnh Độ. Đối với...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/van-de-cam-ung-co-thuc-hay-khong/" title="Vấn đề cảm ứng có thực hay không?">Vấn đề cảm ứng có thực hay không?</a> (0)<br /><small>Ngài Thiện Đạo đại sư đời nhà Đường bên Trung Quốc nói, niệm Phật nếu không được...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/loi-khai-thi-vang-ngoc/" title="Lời Khai Thị Vàng Ngọc">Lời Khai Thị Vàng Ngọc</a> (0)<br /><small>- Phật dạy cho chúng ta chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Sinh mạng của chúng ta ...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/" title="Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát">Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát</a> (0)<br /><small>Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm ha...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p1/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1</a> (0)<br /><small>Lời người dịch 
Pháp môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô L...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát</title>
		<link>http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 04 Mar 2010 05:10:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tịnh Độ]]></category>
		<category><![CDATA[A Di Đà]]></category>
		<category><![CDATA[Ấn Quang]]></category>
		<category><![CDATA[Bồ Tát]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật Cảm Ứng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=445</guid>
		<description><![CDATA[Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.Theo Kinh Bi Hoa thì ở vào đời quá khứ có đức Phật [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><span class="drop_cap">Q</span>uan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.Theo Kinh Bi Hoa thì ở vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. thời đó có vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua có quan đại thần là Bảo Hải, phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia đối trước Đức Phật Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, Đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở vào thế giới cực lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_446" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px;">
<dt class="wp-caption-dt"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/quanam_034.jpg" rel="lightbox[445]"><img class="size-large wp-image-446" title="Bồ Tát Quan Âm" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/quanam_034-450x684.jpg" alt="Bồ Tát Quan Âm" width="450" height="684" /></a></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Trạm trổ Bồ Tát Quan Âm tại Trung Quốc. Nhiều cánh tay của Bồ Tát tượng trưng cho khả năng cứu giúp chúng sinh vô tận.</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Vua Chuyển Luân có nhiều con. Con cả là Thái Tử Bất Tuấn cũng do ngài Bảo Hải khuyến tiến. Thái Tử cũng đi xuất gia theo cha và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bảo nguyện đại bi thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. vì vậy Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo Haỉ là tiền thân của Đức Thích Ca Mầu Ni.Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử rằng: “Vì lòng đại bi Ông muốn quán niệm cho tất cả chúng sanh được cùng về cõi an lạc (cực lạc). Vậy từ nay đặt tên cho Ông là Quan Thê Âm….</p>
<p style="text-align: justify;">Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm….BI là phương châm, là cách thức hành động để cứu khổ.Từ là lòng yêu thương, Bi là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế. Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Quán Thế Âm xưa kia Ngài đã thành Phật hiệu là “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật tương lai sẽ bổ vào ngôi của Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống sa bà trợ giáo cho Đức Thích Ca Mâu Ni.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/m-bud10.jpg" rel="lightbox[445]"><img class="aligncenter frame size-large wp-image-447" title="Đức Thích Ca Mâu Ni" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/03/m-bud10-450x321.jpg" alt="" width="450" height="321" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm có chép lời Ngài bạch với Đức Thếâ Tôn rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">“Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về trước có Đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm, từ Đức Phật kia dạy con, do nghe, nghĩ và tu mà vào Tam Ma Đề” Do đó nên biết: Ngài đã phát tâm Bồ Đề từ đời Đức Phật Quan Thế Âm trong vô số hằng hà sa kiếp về trước do nghe Phật truyền pháp, Ngài đã nhận định pháp tu viên thông về nhĩ căn là hơn tất cả, do ngài khó chứng viên thông ở nhĩ căn nên được Đức Phật thụ ký cho ngài danh hiệu Quán Thế Âm, một danh hiệu mà chúng sanh ở mười phương cung kính chấp trì, nhất là trong những lúc nguy hiểm, đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Kinh Quán Âm Tam Muội nói: “Xưa kia Ngài Quán Thế Âm đã thành Phật hiệu là “Chính Pháp Minh Như Lai”. Tiền thân Đức Thích Ca hồi ấy đã từng ở dưới pháp toà, sung vào trong số đệ tử khổ hạnh để gần gũi”. Ngày nay Đức Thích Ca thành Phật, thời Ngài trở lại làm đệ tử để gần gũi lại:” Một Đức Phật ra đời thì hàng ngàn Đức Phật phù trì”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà Na Ni thì chép lời Ngài bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! con nhớ vô lượng ức kiêp trước có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quan Vương tĩnh trụ Như Lai” Đức Phật ấy vì thương đến con và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Đại Bi Tâm Đà La Ni. Ngài lại dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu con mà bảo:”Thiện Nam Tử ! Ông nên trụ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi trược ở đời vị lai mà làm cho họ được sự lợi ích yên vui lớn.” Lúc đó con mới ở ngôi Sơ Địa, vừa nghe xong thần chú này liền vượt lên chứng đại Bát Địa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Mật tông thì theo trong Kinh Đại Bản Như Ý nói có 8 vị đại Quan Âm là:</p>
<p style="text-align: justify;">1) Viên Mãn Ý, Nguyệt Minh Vương Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">2) Bạch Y Tự Tại.</p>
<p style="text-align: justify;">3) Cát La Sát Nữ.</p>
<p style="text-align: justify;">4) Tứ Diện Quán Âm.</p>
<p style="text-align: justify;">5) Mã Đầu La Sát.</p>
<p style="text-align: justify;">6) Tỳ Cầu Chi.</p>
<p style="text-align: justify;">7) Đại Thế Chí.</p>
<p style="text-align: justify;">8) Đà La Quan Âm (Quán Âm Chuẩn Đề).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài có đức uy thần công đức và lòng từ bi rất lớn. Ngài vốn không phải là nữ tướng, nhưng vì ngài thường cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh (mà phụ nữ thường nhiều khổ nạn hơn so với nam giới) cho nên giới phụ nữ đặc biệt tín ngưỡng về Ngài. Nên chúng sanh mới tưởng tượng ra Ngài là nữ tướng để tiện hoá độ cho phụ nữ. Theo Kinh A-Di-Đà nói: Người sanh về cõi cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh, vẫn không có tướng nam, tướng nữ. Kinh A Hàm nói người nữ có 5 chướng không thể thành Phật…..Thế mà Bồ Tát Quan Thế Âm lại hiện thân người Nư ư?</p>
<p style="text-align: justify;">Bồ Tát Quan Thế Âm hiện thân của Đức Từ Bi, muốn nói lên tình Mẹ thương con, Mẹ đối với con là tình thương chân thành, tha thiết nhất không có tình thương nào sánh bằng. Cho nên, Đức Quan Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Căn cứ theo hình tướng đã thể hiện và đức tính Quan Thế Âm đã cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh, nhân loại được thoát khổ đau ở sa bà này to lớn biết chừng nào !</p>
<p style="text-align: justify;">Chân như đạo Phật rất mầu</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân</p>
<p style="text-align: justify;">Hiếu là độ được song thân</p>
<p style="text-align: justify;">Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài</p>
<p style="text-align: justify;">Tinh thông nghìn mắt nghìn tay</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng trong một điểm linh đài hóa ra</p>
<p style="text-align: justify;">Xem trong biển nước nam ta</p>
<p style="text-align: justify;">Phổ môn có Đức Phật Bà Quan Âm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên, Phật Tử chúng ta dù tu theo pháp môn nào: Mật Tông, Tịnh Độ hay Thiền Tông cũng phải thường xuyên niệm hồng danh của Ngài. Ngài gia hộ, độ trì cho mới thoát khỏi tai nạn, khổ ách mỗi khi đến với mọi người chúng ta đều phải niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” thì được giải thoát, tai qua nạn khỏi và sự nghiệp tu hành mới mau chóng thành tựu theo sở cầu như nguyện</p>
<p style="text-align: justify;">*/ Tuệ Minh Đạo</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/phai-hieu-ro-su-niem-phat/" title="Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật">Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật</a> (0)<br /><small>Hôm nay là ngày giỗ kỷ niệm lão pháp sư Ấn Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/" title="Tịnh Tông Nhập Môn">Tịnh Tông Nhập Môn</a> (0)<br /><small>Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p2/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe P2">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe P2</a> (0)<br /><small> 8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT          ĐƯỢC GIẢI OAN
Nhớ lại vào đầu tuần tháng...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p1/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1</a> (0)<br /><small>Lời người dịch 
Pháp môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô L...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/10-cau-chuyen-cua-duc-phat-thich-ca/" title="10 Câu Chuyện Của Đức Phật Thích Ca ">10 Câu Chuyện Của Đức Phật Thích Ca </a> (0)<br /><small>DOWNLOAD TOÀN PHẦN TẠI ĐÂY


Tổng số files: 74 | Tổng số size: 6.78GB
Tất cả...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nostradamus: 2012 (2009)</title>
		<link>http://www.hugle.net/nostradamus-2012-2009/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/nostradamus-2012-2009/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 15 Feb 2010 01:19:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ngoại Cảm]]></category>
		<category><![CDATA[Bí Ẩn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=440</guid>
		<description><![CDATA[Chúng ta đã đọc nhiều về ngày tận thế, đã biết về những dự đoán trong lịch của người Mayan rằng thế giới sẽ kết thúc vào một ngày cuối năm 2012 đang đến rất gần. Những vấn đề này có phải là trùng hợp ngẫu nhiên khi nó được nhắc đến trong những lời [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><span class="drop_cap">C</span>húng ta đã đọc nhiều về ngày tận thế, đã biết về những dự đoán trong lịch của người Mayan rằng thế giới sẽ kết thúc vào một ngày cuối năm 2012 đang đến rất gần. Những vấn đề này có phải là trùng hợp ngẫu nhiên khi nó được nhắc đến trong những lời dự đoán của nhà tiên tri nổi tiếng Nostradamus?</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày tận thế ?</p>
<p style="text-align: justify;">Có phải ngày tận thế của chúng ta sẽ đến vào năm 2012</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/New_2012.jpg" rel="lightbox[440]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-441" title="New_2012" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/New_2012.jpg" alt="" width="354" height="500" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Bộ phim khoa học này của History Channel có thể không giúp được bạn giải đáp hết các thắc mắc trên nhưng sẽ giúp bạn có 1 cái nhìn sâu sắc hơn về những dự đoán đáng sợ nhưng cũng rất thú vị này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nostradamus (1503-1566) là một nhà tiên tri người Pháp, ông viết tổng cộng khoảng 1000 lời tiên đoán về những sự việc xảy ra sau đó hàng thế kỷ. Năm 1789, lúc cách mạng tư sản Pháp nổ ra, có một nhóm chuyên đào mộ của các khu mộ nhà giàu để kiếm chác quyết định tìm đến ngôi mộ của Nostradame. Khi ngôi mộ được mở ra thì trên cổ của bộ xương có đeo một tấm biển, điều kỳ lạ là tấm biển đó khắc chi tiết ngày tháng ngôi mộ của ông bị khai quật lên. Đồng thời cũng có khắc dòng chữ ai chạm vào chiếc sọ đầu tiên, người đó sẽ chết. Và người đào mộ sử dụng chiếc sọ của Nostradame để uống rượu đã chết vì một viên đạn lạc.<br />
Đó là khúc dạo đầu của người kể chuyện trong bộ phim. Tiếp đó là một số lời tiên tri của Nostradame rất sát với những gì xảy ra trong thực tế (thực ra nếu mình lý trí một chút thì có thể nghĩ rằng đó là một sự nhảm nhí, khi mà người ta có thể vặn vẹo các sự kiện để nó ứng vào lời tiên tri nhưng xét về thời gian, cũng như cách thức mô tả vấn đề thì cũng có thể giật mình).</p>
<p style="text-align: justify;">Nostradame viết hơn một nghìn Quastrain (thơ 4 câu), mỗi quastrain là một lời tiên tri. Theo như những người nghiên cứu thì các quastrain đó được pha giữa latin và Hy Lạp, nguyên nhân là do Nostradame tự bảo vệ mình khỏi phong trào chống dị giáo (heresy) thời trung cổ. Tiên tri được coi là một dị giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Không chỉ là những quastrain đó mà ngay từ khi còn trẻ, Nostradame đã có khả năng nhìn thấu tương lai. Câu chuyện kể rằng vào khoảng những năm 1530, Nostradame nhìn thấy một người truyền giáo đi ăn xin, đang uống nước ở giếng chợ, ông quì xuống và hôn lên gấu áo của người ăn xin. Mọi người ngạc nhiên không hiểu sao Nostradame làm như vậy. Sau này, đến năm 1585, Felice Perretti lên ngôi giáo hoàng, tức là St. Sixtus V (ngang hàng như Pope Benedict XVI hiện nay). Và trong những gì giáo hoàng để lại có viết về cuộc gặp gỡ với chàng trai trẻ Nostradame.</p>
<p style="text-align: justify;">Nổi tiếng với khả năng của mình không chỉ ở tài tiên tri mà còn ở thuật chữa bệnh, Nostradame được các nhà giàu mời đến để chữa bệnh cho gia đình. Trong một lần được mời cơm, chủ nhà muốn thử tài Nostradame, mới hỏi ông là hôm nay sẽ ăn con lợn đen hay lợn trắng. Nostradame trả lời là lợn đen. Chủ nhà cho người làm thịt con lợn trắng nhưng khi đưa đến bàn tiệc thì ngược lại &#8211; con lợn đen và sau đó người đầu bếp có giải thích rằng do họ làm rơi con lợn trắng nên buộc phải sử dụng lợn đen thay thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Nostradame được biết có khả năng chữa trị dịch hạch, ông đã chữa trị được phần lớn các bệnh nhân thời kỳ dịch hạch tàn sát châu Âu nhưng không thể cứu nổi vợ và con mình. Từ sau đó, Nostradame quyết định cách ly với thế giới bên ngoài và tập trung viết những lời tiên tri của mình thành một thiên quyển.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo như người dẫn truyện thì tất cả mọi sự kiện lớn hay những nhân vật lớn đều được nhắc tới. Điều đầu tiên là 1648, Hiệp ước Westphalia giữa các nước chấm dứt chiến tranh 30 năm ở Châu Âu, mở ra điều khoản tự quyết quốc gia trên lãnh thổ. Tiếp đó, ông dự đoán chính xác việc tư sản Pháp nổ ra vào thể kỷ XVIII, và cả hình ảnh hoàng hậu phản bội Marie Antoinette lên đoạn đầu đài&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Napoleon là nhân vật lớn được nhắc trong thiên quyển của Nostradame. Trong suốt những năm cầm quân của Napoleon từ cuối 18 đến 1815, Nostradame mô tả cả Châu Âu run sợ dưới vó ngựa người Pháp. Nhưng đồng thời cũng nhắc đến chiến thắng của quận công Wellington tại chiến trường Waterloo, Bỉ. Điều đặc biệt là Nostradame còn mô tả chính sách cả chiến lược quân sự mà lực lượng đồng minh sử dụng chống lại ông hoàng Napoleon (chia quân thành những khối vuông để khắc phục nhược điểm lên đạn của súng thời bấy giờ). Trước đó, tức là khi Napoleon tấn công nước Nga 1812, Nostradame cũng dự đoán Napoleon sẽ thất bại bởi &#8220;the white god&#8221;, và đúng là cái giá lạnh, băng tuyết đã khiến cho quân đội của Napoleon thât bại.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Người con của nước Đức, Hitor, khi anh ta lên tiếng cả đất nước sẽ đi theo&#8221;. Tức là Hitler. Xét về chữ cái trong tên cũng không sai lệch là mấy. Trong các lời tiên tri của Hitler có bao gồm cả những cuộc thảm sát trong các trại tập trung đối với người Do Thái.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần hơn với những thập kỷ gần đây, sau khi đã dự đoán cái chết của Abraham Lincoln, Nostradame dự đoán tương tự về sự kiện năm 1963 khi John Kennedy bị ám sát tại phi trường, đồng thời sau đó vài năm là cái chết của của thượng nghị sĩ Edward Kennedy. (chính xác đến cả tên người ám sát)</p>
<p style="text-align: justify;">Bộ phim làm năm 1981, nhưng trong phim có nhắc tới lời phán của Nostradame cho rằng thế giới sẽ còn phải trải qua cuộc chiến TG thứ 3 từ các thế lực trung đông. &#8220;Tân quốc gia&#8221; bị phá hủy. Và rõ ràng là ám chỉ nước Mỹ, trong phim có giả lập San Francisco bị trúng tên lửa, và đến ngày hôm nay, 9-11 được nhiều người cho rằng ứng vào với lời tuyên đoán đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Nostradame cũng dự đoán con người sẽ bay vào vũ trụ&#8230;và sau khi chiến tranh III kết thúc, loài người sẽ hưởng thái bình một vài thế kỷ!.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu như những dự đoán đó đúng trong quá khứ thì những dự đoán của Nostradame trong tương lai cũng không nên cười nhạo Tương lai thực chất là một loạt xác suất có từ một loạt (tạm gọi) các giá trị biến cố do quyết định con người trong hiện tại gây nên. Nếu như xác định được khoảng biến thiên của các biến cố đó thì xác xuất nhìn được tương lai xa có thể nâng cao. Và con người có thể có những người có những khả năng tổng hợp như vậy</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng gần đây một số nhà tiên tri như Vanga có nói đến Chiến tranh thế giới III của sự hủy diệt loài người vào năm 2012. (21/12/2012 là ngày kết thúc trong bộ lịch của người Maya). Duy linh thì không nói nhưng em nghĩ nếu duy lý một chút thì liệu có thể xảy ra hay không Tương lai nhiều lúc cũng tò mò.</p>
<pre style="text-align: justify;" dir="ltr">http://rapidshare.com/files/192943524/TEAM.REFAT.Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part1.rar

http://rapidshare.com/files/192954002/TEAM.REFAT.Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part2.rar

http://rapidshare.com/files/192950712/TEAM.REFAT.Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part3.rar

http://rapidshare.com/files/192954108/TEAM.REFAT.Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part4.rar

or

http://www.adrive.com/public/3dbc4185587339396f974afc6bf6c8524fad13339d4c3f99cd21c009d7243a18.html

http://www.adrive.com/public/fa50a8cf96acd7ac3482093164034c2bac4381f79f723c65bf403c248148a91b.html

http://www.adrive.com/public/6deb13b75c3e087d6fa4922aae3adeebd9b9f4304b42c31c77498c64df46dde9.html

http://www.adrive.com/public/c5f87c8a5f21f95065b00b06bcff3eb76453f0e0a047cc21339ade5416866c1d.html

http://rapidshare.com/files/193044568/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part1.rar

http://rapidshare.com/files/193044902/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part2.rar

http://rapidshare.com/files/193045302/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part3.rar

http://rapidshare.com/files/193045724/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part4.rar

http://rapidshare.com/files/193046576/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part5.rar

http://rapidshare.com/files/193047095/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part6.rar

http://rapidshare.com/files/193047451/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part7.rar

http://rapidshare.com/files/193047502/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part8.rar

OR

http://netload.in/dateib2cJ0VHkKo/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part1.rar.htm

http://netload.in/dateiKTkZMYRjO8/Nostradamus.2012.DVDRip.XviD-TBS.part2.rar.htm

OR

http://vip-file.com/download/58daea756507/tns-nostradamus2012-dvdrip.avi.html

OR

http://sms4file.com/downloadvip/58daea756507/tns-nostradamus2012-dvdrip.avi.html

Pass : irfree.com</pre>
<p>Link Mediafire</p>
<p>http://www.mediafire.com/?5lmzyjq20cx</p>
<p>http://www.mediafire.com/?zuijyfjdwcw</p>
<p>http://www.mediafire.com/?mo2mmkuagjf</p>
<p>http://www.mediafire.com/?tjnnmmdemmr</p>
<p>Sub Việt, về chỉnh lại cho phù hợp với mỗi bản nhé</p>
<p>http://www.mediafire.com/?nejkazlemey</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/cam-thach-va-tam-linh/" title="Cẩm Thạch và Tâm Linh">Cẩm Thạch và Tâm Linh</a> (2)<br /><small>Trong thế giới đá quý, ngọc cẩm thạch (ngọc Jade) được xếp vào hàng cao cấp. Đặc...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/10-bi-an-cac-nen-van-minh-1/" title="10 Bí Ẩn Của Các Nền Văn Minh Đã Mất">10 Bí Ẩn Của Các Nền Văn Minh Đã Mất</a> (0)<br /><small>Hầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza kh...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/chuyen-tam-linh-cua-nha-ngoai-cam-phan-thi-bich-hang/" title="Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD">Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD</a> (0)<br /><small>Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc xã Khánh Hòa, h...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/bi-an-cua-pho-tuong-phat-chua-but-thap/" title="Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp">Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp</a> (0)<br /><small>Pho tượng  nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/nostradamus-2012-2009/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cẩm Thạch và Tâm Linh</title>
		<link>http://www.hugle.net/cam-thach-va-tam-linh/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/cam-thach-va-tam-linh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 06 Feb 2010 04:29:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đời Sống & Xã Hội]]></category>
		<category><![CDATA[Bí Ẩn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=435</guid>
		<description><![CDATA[Trong thế giới đá quý, ngọc cẩm thạch (ngọc Jade) được xếp vào hàng cao cấp. Đặc biệt đối với người tiêu dùng Á đông, ngọc Jade được yêu thích không những là vật trang sức vì màu sắc, đẳng cấp, nghệ thuật và hướng về nhu cầu tâm linh của con người.
Trong lịch sử [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><span class="drop_cap">T</span>rong thế giới đá quý, ngọc cẩm thạch (ngọc Jade) được xếp vào hàng cao cấp. Đặc biệt đối với người tiêu dùng Á đông, ngọc Jade được yêu thích không những là vật trang sức vì màu sắc, đẳng cấp, nghệ thuật và hướng về nhu cầu tâm linh của con người.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lịch sử các triều đại vua chúa hàng nghìn năm qua của nhiều nước hiện còn bảo tồn những di vật vô giá bằng ngọc Jade. Trong thế giới đương đại, các bà các cô từ hàng quý phái cho đến bình dân đều rất đam mê những chuỗi ngọc, vòng ngọc, nhẫn ngọc… nếu là ngọc màu xanh lý thì là tuyệt đỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Các nhà sưu tập rất tự hào về những bức phù điêu, những tượng phật, tượng các con vật độc đáo như rồng, cóc, kỳ, hươu v.v…; kích thước càng lớn càng quý, nhưng vẫn có màu xanh lý hấp dẫn và hiếm hoi. Người sành chơi việc lựa chọn vật phẩm không phải chỉ vì màu sắc mà còn vì đẳng cấp của ngọc Jade, đương nhiên màu sắc và độ trong vẫn là những tiêu chí ban đầu. Ngọc cẩm thạch còn có ý nghĩa trong sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật hướng về nhu cầu tâm linh của con người: tượng các vị thần linh, tượng phật, tượng các vị anh hùng dân tộc…</p>
<p>Vậy ngọc Jade có những đẳng cấp nào được phân loại theo các tiêu chí khoa học và độ quý hiếm, màu sắc ở những cấp độ khác nhau theo cảm quan của người sành chơi.</p>
<p>Như vậy, bên cạnh các tiêu chí khoa học, quan trọng hơn vẫn là độ đam mê của giới thượng lưu đối với họ ngọc Jade cũng thuộc hàng quý tộc trong vương quốc đá quý mà thiên nhiên đã tạo dựng.</p>
<p>Các cuộc đấu giá quốc tế của các hãng lừng danh như Christie, Sothby’s v.v… là nơi định hình các đẳng cấp ngọc Jade. Cũng cần nói thêm là đối với kim cương việc phân biệt đẳng cấp của chúng đơn giản hơn nhiều, ngày nay người ta còn có những thiết bị khoa học tinh vi và hiện đại góp phần phân cấp chính xác chất lượng kim cương. Nhưng đối với ngọc Jade thì cặp mắt của những nhà sưu tập sành chơi nhất lại là thiết bị tinh vi nhất!</p>
<p>Vậy khi nói một hàng trang sức bằng ngọc Jade thuộc đẳng cấp cao nhất thì diễn đạt bằng cách nào đây? Bằng trị giá đô la mà người ta đã thắng cuộc trong một trận đấu giá ư? Bằng tên chủ nhân của nó là một hoàng đế xứ Ba Tư hay một minh tinh màn bạc nổi tiếng? Thật không phải điều dễ dàng gì. Có lẽ không thể sa đà vào những lối đi không có đường thoát như vậy được.</p>
<p>Theo khoáng vật học, Ja-đê-it [ Na(Al,Fe3+)Si2O6 ] là thành phần chủ yếu của ngọc Jade Miến Điện. Ja-đê-it là khoáng vật có một lý lịch cực kỳ hiếm có. Thoạt đầu những dòng dung nham bazan tích đọng dưới đáy biển nằm cạnh một đường nứt lớn của Trái đất phân chia đại dương và lục địa. Đáy đại dương bị hút chìm theo đường nứt đó đến độ sâu trên 60km, đương nhiên ở đó không còn nước biển nữa mà chỉ có những lớp bùn biển bị vùi lấp theo và cùng chịu áp lực rất cao của khối lục địa nằm trên nên hoàn toàn bị biến chất. Khối đá bazan biến thành ngọc màu xanh lý: ngọc Ja-đê-it.</p>
<p>Về sau toàn bộ các lớp đá biến chất lại trồi lên theo vận động của Trái đất tạo nên dãy núi kéo dài. Ví dụ dãy núi kéo dài từ Myanma cho đến dãy núi Ural (Nga). Dọc theo dãy núi cổ có thể tìm thấy ngọc Ja-đê-it. Với lý lịch kỳ bí đó, ngọc Ja-đê-it rất khó tìm thấy, mà nếu tìm thấy thì cũng rất hiếm.</p>
<p>Myanma là một quốc gia được thiên nhiên ban phát những mỏ Ja-đê-it lớn nhất và đẹp nhất mà cho đến nay chưa có quốc gia nào khác có được. Tuy vậy Myanma lại không là chủ sở hữu của những tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới. Hiện nay, một ngôi chùa ở thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) có hai tượng Phật bằng ngọc Ja-đê-it Miến Điện thuộc loại lớn nhất thế giới hiện nay. Trong đó tượng Phật ngồi cao 1,95m nặng 3 tấn. Tượng thứ hai là tượng Phật nằm. Trong lịch sử đấu giá của hãng Christie đã có những vòng đeo tay bằng ngọc Ja-đê-it Miến Điện, mỗi vòng giá bán được trên một triệu USD. Có lẽ những thông tin định lượng đó đủ nói lên đẳng cấp bậc nhất của ngọc Ja-đê-it Miến Điện.</p>
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_436" class="wp-caption aligncenter" style="width: 288px;">
<dt class="wp-caption-dt"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/cam-thach-tam-linh-2.jpg" rel="lightbox[435]"><img class="size-full wp-image-436" title="cam thach tam linh 2" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/cam-thach-tam-linh-2.jpg" alt="" width="278" height="556" /></a></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Tượng Phật bằng ja-đê-it ở Thượng Hải, cao 1,95m nặng 3 tấn.</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Thuộc đẳng cấp thứ hai là ngọc Nephrit [ Ca2(Mg,Fe2+)5[Si8O22](OH,F)2 không có lý lịch quá phức tạp như vậy nên dễ tìm thấy hơn và không quý bằng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tượng Phật nặng gần 4 tấn được trình bày tại ngôi chùa ở Bắc Ninh vào đầu năm vừa qua được tạc bằng nephrit có xuất xứ từ Canada. Chưa có vật trang sức nào bằng nephrit có thể đạt đến hàng triệu USD như ngọc Ja-đê-it Miến Điện.</p>
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_437" class="wp-caption aligncenter" style="width: 430px;">
<dt class="wp-caption-dt"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/cam-thach-tam-linh-3.jpg" rel="lightbox[435]"><img class="size-full wp-image-437" title="cam thach tam linh 3" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/cam-thach-tam-linh-3.jpg" alt="" width="420" height="600" /></a></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Tượng Phật bằng nephrit trong chuyến viễn du “Vì Hòa bình” năm 2009 ở Bắc Ninh.</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Năm 1982 tượng Phật nặng 260 tấn được lập kỷ lục Guiness thế giới tại thành phố An Sơn (tỉnh Liễu Ninh &#8211; Trung Quốc) thuộc ngọc Jade đẳng cấp thứ ba: ngọc secpentin. Ngọc secpentin có thể tìm thấy nhiều nơi ở Việt Nam ta: Ngọc Hồi (Kon Tum), Núi Nưa (Thanh Hoá), v.v… Chúng không thuộc loại quý hiếm.</p>
<p style="text-align: justify;">
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_438" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px;">
<dt class="wp-caption-dt"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Cam-thach-tam-linh-1.jpg" rel="lightbox[435]"><img class="size-large wp-image-438" title="Cam thach tam linh 1" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Cam-thach-tam-linh-1-450x452.jpg" alt="" width="450" height="452" /></a></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Tượng Phật bằng secpentinit nặng 260 tấn đặt tại chùa An Sơn Liễu Ninh &#8211; Trung Quốc</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Vào tháng 10 năm 2009, Công ty Thần Châu &#8211; Ngọc Việt của doanh nhân Đào Trọng Cường đã nhập khẩu từ Myanma một khối ngọc Ja-đê-it nặng trên 35 tấn để tạc tượng Phật. Hy vọng sau hai năm chế tác, ông Đào Trọng Cường sẽ là chủ nhân của một tượng Phật trên 10 tấn, có thể ghi tên vào Guiness thế giới: tượng tạc từ khối ngọc thuộc đẳng cấp cao nhất của dòng họ ngọc Jade.</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/nostradamus-2012-2009/" title="Nostradamus: 2012 (2009)">Nostradamus: 2012 (2009)</a> (1)<br /><small>Chúng ta đã đọc nhiều về ngày tận thế, đã biết về những dự đoán trong lịch của n...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/10-bi-an-cac-nen-van-minh-1/" title="10 Bí Ẩn Của Các Nền Văn Minh Đã Mất">10 Bí Ẩn Của Các Nền Văn Minh Đã Mất</a> (0)<br /><small>Hầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza kh...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/chuyen-tam-linh-cua-nha-ngoai-cam-phan-thi-bich-hang/" title="Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD">Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD</a> (0)<br /><small>Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc xã Khánh Hòa, h...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/bi-an-cua-pho-tuong-phat-chua-but-thap/" title="Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp">Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp</a> (0)<br /><small>Pho tượng  nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/cam-thach-va-tam-linh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Thiền sư Thích Nhất Hạnh</title>
		<link>http://www.hugle.net/tuyen-tap-cac-tac-pham-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/tuyen-tap-cac-tac-pham-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 05 Feb 2010 11:38:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thiền]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Thiền Sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=412</guid>
		<description><![CDATA[Thích Nhất Hạnh là một thiền  sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và  người vận động cho hòa bình. Ông sinh ra ở Thừa  Thiên-Huế, miền Trung Việt  Nam, vào ngày 11 tháng  10 năm 1926, xuất gia theo Thiền tông [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><strong><span class="drop_cap">T</span>hích Nhất Hạnh</strong> là một thiền  sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và  người vận động cho hòa bình. Ông sinh ra ở Thừa  Thiên-Huế, miền Trung Việt  Nam, vào ngày 11 tháng  10 năm 1926, xuất gia theo Thiền tông vào năm  16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949.  Pháp hiệu &#8220;Thích&#8221; được sử dụng bởi các nhà sư Việt Nam, nghĩa là họ là một phần  của dòng tu Shakya. Ông là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh  hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lại Lạt-ma. Ông là người đưa ra khái niệm &#8220;Phật  giáo dấn thân&#8221; (<em>engaged Buddhism</em>) trong cuốn sách <em>Vietnam: Lotus in a  Sea of Fire</em> của ông.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Tiểu sử</h2>
<p style="text-align: justify;">Thiền sư Thích Nhất Hạnh được sinh ra với tên húy là <strong>Nguyễn Xuân Bảo</strong> ở  Thừa Thiên (miền trung Việt Nam) vào năm 1926. Vào  năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân  Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc ở miền Trung  Việt Nam, Thích Nhất Hạnh tu học thiền theo  trường phái Đại  thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949. Thích Nhất Hạnh bây giờ được công nhận là một thiền  sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và các tu viện liên quan  khác. Ông  là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 của dòng Liễu Quán trong đời thứ 42 của phái  thiền Lâm  Tế Dhyana (<em>Lin Chi Chan</em> 臨濟禪, hay <em>Rinzai Zen</em> trong tiếng Nhật). Vào ngày 1 tháng 5 năm 1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh để từ đây ông trở thành một thiền sư (thầy dạy về  thiền). Thích Nhất Hạnh đã phối hợp kiến thức  của ông về nhiều trường phái thiền khác nhau cùng với các phương pháp từ truyền  thống Phật giáo Thượng tọa bộ, những  nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật Giáo Đại thừa, và vài phát kiến của  ngành tâm lý  học đương đại phương Tây để tạo thành cách tiếp cận hiện đại của ông đối với  thiền. Thích Nhất Hạnh đã trở  thành một người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của Phật  giáo phương Tây.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Hoạt động</h2>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1956 ông là Tổng biên tập của  <em>Phật giáo Việt Nam</em>, tờ báo của Giáo  hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vào thập niên 1960, ông thành lập Trường  Thanh niên Phụng sự Xã hội (<em>School of Youth for Social Services</em> &#8211;  SYSS) ở Sài  Gòn, một tổ chức từ thiện xây dựng lại các làng bị bỏ bom, xây dựng trường  học và các trạm xá, và giúp các gia đình bị trở thành vô gia cư trong Chiến tranh Việt Nam.  Ông cũng là một trong những người thành lập Viện  Đại học Vạn Hạnh và Nhà  xuất bản Lá Bối. Viện  Đại học Vạn Hạnh trở thành một viện đại học tư thục danh tiếng tập trung các  nghiên cứu về Phật giáo, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Nhất Hạnh dạy giáo lý  phật giáo và <em>Prajnaparamita</em>. Trong một buổi gặp mặt vào tháng 4 năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh đưa ra thông điệp  &#8220;lời kêu gọi vì hoà bình&#8221;. Nội dung chính của lời kêu gọi là &#8220;đã đến lúc hai  miền Bắc-Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và  đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hoà bình với lòng tôn trọng lẫn  nhau&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông đã đến Hoa Kỳ nhiều lần  để nghiên cứu và diễn thuyết tại Viện Đại học Princeton và Viện Đại học Cornell, và  sau này giảng dạy tại Viện Đại học Columbia.  Mặc dầu vậy, mục đích chính cho các chuyến đi ra nước ngoài (Mỹ và Âu Châu) của  ông trong thời gian này vẫn là để vận động cho hòa bình. Ông kêu gọi Martin Luther King, Jr. công khai chống  lại Chiến tranh Việt Nam, và thuyết giảng với nhiều người và nhiều nhóm về hòa  bình. Vào năm 1967, King đề cử ông cho Giải Nobel Hòa bình. Nhất Hạnh dẫn đầu phái đoàn Phật giáo đến Đàm phán hòa bình  Paris. Là một trong những người thầy về Phật giáo ở phương Tây, những lời  dạy và các phương pháp thực hành của Thích Nhất Hạnh thu hút nhiều người đến từ  các quan điểm về tôn  giáo, tâm linh và chính trị khác nhau. Ông đưa ra cách  thực hành &#8220;chính  niệm&#8221; (sự lưu tâm đúng đắn &#8211; Pali: <em>Sati</em>; Sanskrit:smṛti स्मृति; tiếng Anh: <em>mindfulness</em>), thường được  điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1966, ông lập ra Dòng tu Tiếp Hiện (&#8220;Tiếp&#8221; có nghĩa tiếp xúc, tiếp nhận, &#8220;Hiện&#8217;&#8221; có nghĩa thực hiện; tên tiếng Anh là <em>The Order  of Interbeing</em>, tiếng Pháp là <em>L’ordre de  l’interêtre</em>), và thiết lập các trung tâm thực hành và các thiền  viện khắp trên thế giới. Nơi cư ngụ của ông là Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne thuộc miền Nam nước Pháp. Ông du hành khắp thế giới thuyết giảng và  tổ chức các khóa tu thiền. Sau nhiều năm không được phép quay về Việt Nam, ông  được về lần đầu tiên vào năm 2005. Nhất Hạnh vẫn tiếp tục các hoạt động  vận động vì hòa bình. Ông đã tổ chức các khóa tu thiền cho người Israel và người Palestine, khuyến khích họ lắng nghe và học hỏi lẫn  nhau; thuyết giảng kêu gọi các nước đang tham chiến hãy đình chiến và đi tìm các  giải pháp bất bạo động cho các mâu thuẫn của họ; và tổ chức diễu hành hòa  bình ở Los Angeles vào năm  2005 được tham dự bởi hàng ngàn người.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Chuyến trở về  Việt Nam sau 1975</h2>
<p style="text-align: justify;">Từ 12 tháng 1 đến 11 tháng 4 năm 2005,  Thích Nhất Hạnh quay về Việt Nam sau một loạt các thương lượng cho phép ông  thuyết giảng, một số sách của ông được xuất bản bằng tiếng Việt, và cho phép 100 tăng ni  và 90 thành viên khác của dòng tu theo ông đi khắp đất nước, bao gồm cả chuyến  quay về ngôi chùa ông xuất gia, chùa Từ Hiếu ở Huế.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2007, ông lại cùng phái đoàn Phật  giáo quốc tế thuộc tăng thân Làng  Mai trở về Việt Nam với lịch trình từ ngày 20 tháng 2 (mùng 4 Tết)  đến ngày 9 tháng 5, mục  đích tổ chức các khóa tu, buổi pháp  thoại, gặp gỡ các tăng ni phật  tử ba  miền. Đầu năm 2007, với sự đồng ý của Trung ương  Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông tổ chức ba trai đàn chẩn tế lớn tại ba miền  Việt Nam gọi là <em>&#8220;Đại trai đàn Chẩn tế Giải oan&#8221;</em> cầu nguyện và giải trừ  oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến  tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế, không phân biệt tôn giáo, chính trị, chủng  tộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vụ  mâu thuẫn ở tu viện Bát Nhã, các tu sinh của thiền sư tại tu viện đã bị quấy  nhiễu và hăm dọa bằng vũ lực, tu viện bị đập phá, cắt điện, nước, điện thoại và  cô lập. Tuy nhiên, thiền sư đã từ chối làm vụ việc thêm rắc rối và dạy các tu  sinh nên chế ngự cơn giận nhằm mang lại sự thấu hiểu và tình yêu thương.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Tác Phẩm</h2>
<h2 style="text-align: justify;">An lạc từng bước chân</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/an-lac-tung-buoc-chan.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-414" title="an lac tung buoc chan" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/an-lac-tung-buoc-chan.jpg" alt="" width="269" height="405" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Muốn đem lại hòa bình cho thế giới, trước hết mỗi người chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà, từ, bi, hỉ, xả là nền tảng. Có từ, bi, hỉ, xả, thì đi đâu ta cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi dâu ta cũng đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi lòai.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuốn sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự an lạc của thân tâm ta và của thế giới. Đây là một cuốn sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội và đời sống một con người&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Bên trên là lời giới thiệu của Đại Hoà Thượng Đạt Lai lạt Ma (Dalai Lama), vị Hoà thượng người Tây Tạng, được mệnh danh là &#8220;Phật sống&#8221;. Đạt Lai Lạt Ma đã quá nổi tiếng, những lời giới thiệu của ông chắc cũng không đến nỗi làm chúng ta nghi ngờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn chần chờ gì nữa, mời bạn đọc quyền sách nhỏ này để tìm cho mình sự an lạc trong từng bước chân!</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_AnLacTungBuocChan.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong>Am Mây Ngủ</strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/am-may-ngu.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-415" title="am may ngu" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/am-may-ngu.jpg" alt="" width="339" height="500" /></a></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Truyện <strong>Am Mây Ngủ</strong> tuy nói về công chúa Huyền Trân nhưng ở đây hình ảnh công chúa Huyền Trân không thể tách rời ra khỏi hình ảnh của người tăng sĩ áo vải sống trên am Ngoạ Vân núi Yên Tử. Người ấy là Trúc Lâm đại sĩ, tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi thành Thiền sư, Trúc Lâm đại sĩ đã từng làm vua nước Đại Việt. Đó là vua Trần Nhân Tông, người đã từng đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ. Từ ngày xuất gia, Trúc Lâm đã sống đời khổ hạnh, mặc áo vải sô, ngủ am lá, và đi chân đất. Ông đã tu như thế trên mười năm trời, trong khi vẫn không quên tiếp tục xây dựng và bồi đắp nền đạo đức và văn hóa dân tộc. Ông đã du hành sang đất Chiêm để thắt chặt tình hữu nghị Chiêm Việt, mong dựng nên một nền hòa bình lâu dài giữa hai nước. Công chúa Huyền Trân con gái của ông đã tự nguyện làm một trong những viên gạch đầu tiên cho nền móng hòa bình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong <strong>Am Mây Ngủ</strong>, <em>tác giả đã lấy lòng của một Thiền sư để hiểu lòng một vị Thiền sư</em>. Đó là nét cảm động nhất trong tác phẩm mà Lá Bối trân trọng giới thiệu với các độc giả thân mến hôm nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_AmMayNgu.rar" target="_blank">Download</a></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BÀ LA MÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong ba nguồn gốc của văn hóa Chăm, nguồn ảnh hưởng ấn Độ có vẻ nổi bật nhất, nhưng thực chất thì nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng. Thực tế, có lẽ phần lớn người Chăm bình dân không hề biết đến các triết lí Bàlamôn giáo cùng các vị thần. Các truyền thuyết ấn Độ xa lạ. Đó là việc của các tu sĩ Bàlamôn. Tu sĩ Bàlamôn thì chỉ đạo xây đền, tạc tượng theo những khuôn mẫu ấn Độ, còn người nghệ sĩ dân gian thì xây và tạc theo cảm hứng và những khuôn mẫu truyền thống của nhân dân mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ chỗ cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi đạo này mới du nhập, dần dần chỉ có một mình Siva được đề cao bởi lẽ tính cách Siva phù hợp hơn cả với tính cách bản địa của người Chăm. Và trong Siva muôn mặt với hàng trăm tên, chỉ có Siva dưới dạng Linga hoặc với Linga được phổ biến bởi lẽ tục thờ cột đá như một dạng của tín ngưỡng phồn thực vốn là truyền thống lâu đời của người nông nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_BaLaMonGiao_va_VHVietnam.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong>Trái tim của Bụt</strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/trai-tim-cua-but.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-medium wp-image-418" title="trai tim cua but" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/trai-tim-cua-but-200x285.jpg" alt="" width="200" height="285" /></a></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>&#8221; Trái tim của Bụt&#8221; </strong>là Phật pháp căn bản để dạy cho người xuất gia, đã và đang được sử dụng bởi các giáo thọ trẻ ở Việt Nam, dùng giảng dạy trong các trường Phật học cơ bản. Cuốn sách tập hợp 25 bài phật pháp căn bản. Các vị giáo thọ trẻ ở Việt Nam dùng &#8220;Trái Tim Của Bụt&#8221; làm tài liệu giảng dạy và họ cũng sử dụng nhiều tư liệu khác của Làng Mai. Trải qua quá trình dạy dỗ và thực tập thì tác giả đã sáng tạo ra được những pháp môn rất mầu nhiệm mà những người tại gia và cư sĩ cũng có thể thừa hưởng được. Những quan niệm như tăng thân, tăng nhãn, làm mới, soi sáng, thiền lạy, đệ nhị thân v.v &#8230; là những hoa trái của sự thực tập và học hỏi ở Làng Mai, Hiện nay cuốn sách không những được sử dụng trong giới xuất gia mà còn được sử dụng trong giới tại gia&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Trai_Tim_Cua_But.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Hiệu Lực Cầu Nguyện</h2>
<h2 style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/hieu-luc-cau-nguyen.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-432" title="hieu luc cau nguyen" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/hieu-luc-cau-nguyen.jpg" alt="" width="283" height="400" /></a></h2>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-weight: normal; font-size: 13px;">Bạn là một Phật tử, một tín đồ Công giáo hay cho dù bạn là một người không theo tôn giáo nào cả thì ít nhất một lần trong cuộc sống của bạn đã từng cầu nguyện.</span></h2>
<p style="text-align: justify;">Cầu nguyện là một đề tài rất lớn và rất hay. Chúng ta có thể nói rằng cầu nguyện bao giờ cũng có kết quả, nhưng mức thành công còn tùy thuộc vào phẩm chất của sự cầu nguyện. Nếu biết cầu nguyện thì chắc chắn chúng ta sẽ được đáp ứng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế giới chúng ta đang đi vào một kỷ nguyên y khoa mới &#8211; Y khoa Nhất tâm, trong đó tâm thức cộng đồng đóng một vai trò chữa trị hay hoại diệt rất lớn. Thiền tập giúp ích được gì trong lĩnh vực này, chúng ta hãy cùng nhau khám phá!</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Hieu_Luc_Cau_Nguyen.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Hạnh Phúc Mộng Và Thực</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/hanh-phuc-mong-va-thuc.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-420" title="hanh phuc mong va thuc" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/hanh-phuc-mong-va-thuc.jpg" alt="" width="300" height="417" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Trong văn học Phật giáo, tâm có khi được ví với đất. Tại bất cứ nơi nào ở xóm Thượng, nếu quí vị cày lên một khoảng đất, bừa cho nhỏ rồi tưới nước, một thơi gian sau sẽ thấy rau dền mọc lên. Quí vị hỏi rau dền ở đâu mà mọc ra như vậy? Rau dền đã có hạt giống ngay trong lòng đất ở xóm Thượng. Ngoài hạt giống rau dền, đất xóm Thượng còn chứa rất nhiều loại hạt giống khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta thường chứa hạt giống trong bồ hoặc trong nhà để chờ ngày gieo và do đó ta nghĩ hạt giống là một cái gì có ở ngoài đất. Kỳ thực, hạt giống luôn luôn nằm trong đất. Nếu ta có hạt giống chứa trong bồ thì hạt giống đó cũng từ lòng đất mà ra, chứ không phải từ trên không rơi xuống rồi đem cất vào bồ. Cái ý niệm đất là tâm là một ý niệm vô cùng tuyệt diệu, vì vậy cho nên ta có chữ tâm địa. Trong đất tâm, ta có đủ mọi hạt giống: hạt giống của gai góc, của tham giận, của si mê, của kiêu căng, của ganh tị&#8230; nhưng trong tâm ta cũng có các hạt giống của hạnh phúc, của giác ngộ, của giải thoát, của sự tha thứ, của sự thương yêu&#8230; Tu học có nghĩa là phân biệt cho được những hạt giống đó để chuyển hoá những hạt giống xấu và tưới tẩm những hạt giống tốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi tu tập, đất tâm của ra rất chứng và với đất đó ta không làm gì được cả. Vì vậy, việc đầu tiên là phải cày đất. Lưỡi cày đất tâm là chánh niệm. Tại Làng Mai chúng ta có 1250 cây mận. Trước khi trồng mận, ta phải cày những khu đồi. Trồng mận ta phải chọn đất. Trồng ở thung lũng, vào mùa xuân sương đọng nhiều, hoa mận có thể bị đóng băng giá, những trái mận có thể chết ngay từ lúc còn trong lòng hoa. Ban đầu ta cày sâu khoảng 40cm rồi đặt những cây mận xuống. Năm thứ hai, giữa những hàng mận con ta phải dùng một lưỡi cày nhỏ, rộng khoảng 5cm và dài gần 1m để cày hai bên hàng mận&#8230;&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_HanhPhuc_Mong_Va_ThucTai.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Đường Xưa Mây Trắng</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Duong_Xua_May_Trang.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-421" title="Duong_Xua_May_Trang" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Duong_Xua_May_Trang.jpg" alt="" width="200" height="290" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đường Xưa Mây Trắng là cuốn sách kể chuyện đời đức Phật Thích Ca qua con mắt của chú bé chăn trâu Svasti, sau xuất gia, trở thành một vị đệ tử của Phật. Đó là chú bé cúng dường cỏ bồ đề cho sa môn Tất Đạt Đa tĩnh tọa suốt 49 ngày trước khi thành đạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Tác phẩm là một thiên anh hùng ca tỏ bày lòng ngưỡng mộ chân thành trước một lối sống gương mẫu đầy những hành vi và mục đích cao cả, thu hút bạn đọc bởi nhân cách vĩ đại của Buddha qua cái nhìn và ngòi bút của Thầy Thích Nhất Hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đường Xưa Mây Trắng đã bán được hơn 1 triệu bản tại bắc Mỹ và được dịch ra hơn 20 thứ tiếng; trong đó có tiếng Hindu. Chính vì thế mà nhà tỉ phú Ấn Độ Bhupendra Kuman Modi sau khi đọc Đường Xưa Mây Trắng đã nói với phóng viên tờ Hollywood Reporter: &#8220;Tôi tìm được Đường Xưa Mây Trắng từ hai năm nay, cuốn sách đã thay đổi đời tôi và nay đến lượt tôi phải chia sẻ hạnh phúc ấy với thế giới &#8220;.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông đã quyết định tài trợ 120 triệu USD để các nhà làm sản xuất dựa theo Đường Xưa Mây Trắng dựng thành phim.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_DuongXuaMayTrang3tap.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong>Để Có Một Tương Lai</strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/de-co-1-tuong-lai.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-422" title="de co 1 tuong lai" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/de-co-1-tuong-lai.jpg" alt="" width="221" height="326" /></a></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Để Một Tương Lai là cuốn sách giúp những người trẻ có thể hiểu rõ hơn về Năm Giới. Xin mượn đôi dòng trong Lời Bạt để các bạn biết thêm về cuốn sách này.</div>
<p style="text-align: justify;">[...]<br />
Trong xã hội có một sự băng hoại lớn. Nếu chúng ta đặt một người trẻ vào xã hội mà không tìm cách bảo vệ họ, họ sẽ tiếp nhận những bạo động, căm thù, sợ hãi, và bất an mỗi ngày, và rốt cuộc sẽ bị bệnh. Những câu chuyện của chúng ta, những chương trình tivi, quảng cáo, sách báo đều tưới tẩm các hạt giống khổ đau nơi những người trẻ, và nơi cả những người lớn. Chúng ta thấy có một sự trống vắng trong lòng, và chúng ta tìm cách khoả lấp bằng cách ăn uống, đọc, nói, hút thuốc, uống rượu, xem tivi, đi coi phim, hay thậm chí làm việc quá độ. Nương tựa vào những thứ này chỉ làm chúng ta càng cảm thấy đói khát, không thoả mãn hơn, và chúng ta muốn hấp thụ nhiều hơn nữa. Chúng ta cần một vài nguyên tắc chỉ đạo, một vài phương thuốc ngăn ngừa để phòng hộ cho mình, để rồi chúng ta có thể lành mạnh trở lại. Chúng ta cần tìm cho ra phương thuốc cho căn bệnh của mình. Chúng ta cần tìm cho ra những gì lành, đẹp và thật để có thể nương tựa vào.</p>
<p style="text-align: justify;">[...]<br />
Năm Giới trong sách này được diễn dịch theo hình thức mới. Đây là kết quả của những tuệ giác gặt hái được từ việc thực tập chung như một tăng thân. Một truyền thống tâm linh cũng giống như một cái cây, cần được chăm tưới để cho ra những cành, lá mới để có thể tiếp tục là một thực thể sinh động. Chúng ta giúp cái cây Phật giáo phát triển bằng cách sống sâu sắc chân tinh thần của nó, sự hành trì Giới, Định, Tuệ. Nếu chúng ta tiếp tục thực tập Giới một cách sâu sắc, trong tương quan với xã hội và văn hoá chúng ta, tôi tin rằng con cháu chúng ta sẽ có một sự hiểu biết về Năm Giới còn sâu hơn chúng ta bây giờ và sẽ có nhiều an lạc hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">[...]</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_De_Co_Mot_Tuong_Lai.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/phep-la-cua-su-tinh-thuc.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-423" title="phep la cua su tinh thuc" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/phep-la-cua-su-tinh-thuc.jpg" alt="" width="100" height="150" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức&#8221; là những phương pháp nhiệm màu thực tập thiền quán trong đời sống hằng ngày. Đọc nó, chúng ta cảm nhận được từng sát na hạnh phúc trong cuộc sống. Từ một bác sĩ, một người công nhân, một thợ may, một người thợ tiện, một bà nội trợ đến một kỹ sư&#8230;&#8230;. Tất cả những công việc thường nhật đó bỗng trở nên phép lạ khi thắp lên ánh sáng chánh niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sách đã được dịch ra gần 30 thứ tiếng trên thế giới, được mọi độc giả, mọi thành phần trong xã hội nhiệt liệt hoan nghênh. Có thể thấy rằng đây không chỉ là một cuốn sách mà là những chia sẻ kinh nghiệm nếp sống chánh niệm trong đời sống hằng ngày, là bài học căn bản thực tập thiền quán của Thiền sư Nhất Hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Phep_La_Cua_Su_Tinh_Thuc.zip" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong>Trái Tim Mặt Trời</strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Trai-tim-mat-troii.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-431" title="Trai tim mat troii" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Trai-tim-mat-troii.jpg" alt="" width="281" height="399" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Từ chánh niệm đến thiền quán. Đây là một cuôn sách hay cùa Thầy. Xin trích một đoạn ngắn mà chuột con tâm đắc:</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: normal;">Có lẽ bạn đã để ý rằng mỗi khi dùng mệnh đề “thế giới bên ngoài” tôi đều đặt nó trong vòng kép. Tôi làm như thế là vì tôi không thực sự thấy rằng thế giới ấy là thế giới “bên ngoài”. Bạn thử quán sát xem: bên ngoài là bên ngoài của thân hay của tâm? Thân thể ta, máu thịt và gân cốt ta đều thuộc về thế giới “bên ngoài” ấy. Cho đến hệ thần kinh và óc tủy của chúng ta cũng đều thuộc về cùng một thế giới. Cái dung tích mấy trăm phân khối chứa não bộ của ta, nó có phải là cái “ thế giới bên trong” để đối với cái “thế giới bên ngoài” hay không? Bạn nói là không, bởi vì nó là một phần của không gian, tức là một phần của thế giới bên ngoài. Vậy thì thế giới bên trong là tâm, bạn nói. Nhưng tâm ở đâu? Bạn có thể xác dịnh được vị trí của tâm không? Bạn hãy dùng tâm mà quan sát tâm như quan sát mọi hiện tượng khác mà ta gọi là vật lý. Tâm liên hệ tới thần kinh và não bộ: tâm là ký ức và cảm giác, là tư tưởng, là nhận thức, những hiện tượng ấy có liên hệ tới gốc rễ sinh lý của chúng, có sinh diệt, có cường độ. Bạn nói ta có thể xác dịnh vị trí không gian và thời gian của chúng. Về không gian thì căn cứ của chúng là thần kinh và não bộ. Về thời gian thì chúng có thể phát hiện hôm qua, ngày nay hoặc ngày mai. Như vậy dưới nhận thức của tâm, tâm trở thành một phần của cái thế giới mà ta gọi là thế giới bên ngoài. Cứ theo đà ấy mà suy xét thì tất cả đều thuộc về thế giới bên ngoài ấy. Nhưng bên ngoài là bên ngoài của cái gì? Làm gì có bên ngoài nếu không có bên trong? Những quan sát ấy không phải để đưa tới kết luận rằng thế giới bên ngoài nằm gọn trong tâm và tâm bao hàm tất cả pháp giới. Bởi vì một kết luận như thế vẫn còn được đặt trên sự phân biệt trong và ngoài. “Tất cả đều trong tâm, ngoài tâm không còn gì nữa”. Câu nói này cũng vô lý như câu nói: “Tâm ta nhận thức được thế giới bên ngoài”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: normal;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh__Trai_Tim_Mat_Troi.rar" target="_blank">Download</a></span></p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-weight: normal;">Thả Một Bè Lau</span></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: normal;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Tha-mot-be-lau.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-428" title="Tha mot be lau" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Tha-mot-be-lau.jpg" alt="" width="280" height="400" /></a></span></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta thường nghĩ truyện Kiều là truyện của một người khác và chúng ta chỉ là khán giả, không có liên can gì. Nhưng khi viết truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã sống trong da thịt của nhân vật Kiều, đã trở thành với Kiều, cụ đã nói được tâm sự của chính mình. Cô Kiều trong truyện đã phải bắt buộc làm gái giang hồ. Là một nhà Nho, một mẫu mực đạo đức thời xưa ở Việt Nam, vậy mà có khi cụ Nguyễn Du cũng có cảm tưởng mình là một cô gái giang hồ. Cụ làm quan với triều Lê. Sau khi nhà Lê mất, cụ bị nhà Nguyễn gọi ra làm quan. Không từ chối được, cụ phải ra làm quan cho triều Nguyễn. Theo quan niệm của Nho giáo ngày xưa, một người thần tử trung thành không bao giờ thờ hai vua (‘trung thần bất sự nhị quân.’). Trong khi viết truyện Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du viết truyện của chính mình. Cụ muốn gửi tấc lòng mình vào thiên cổ chứ không phải vì ngồi không, cao hứng nhất thời mà viết ra một tác phẩm chữ Nôm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có chánh niệm, đem những khổ đau, luân lạc và gian truân của mình ra đọc truyện Kiều chúng ta có cơ hội thấy được bản thân. Và như vậy đọc truyện Kiều cũng là tu. Tu tức là nhìn tất cả những gì đã và đang xảy ra trong đời mình bằng con mắt quán chiếu.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Tha_Mot_Be_Lau.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Thiền Hành Yếu Chỉ</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Thien-hanh-yeu-chi.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-429" title="Thien hanh yeu chi" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Thien-hanh-yeu-chi.jpg" alt="" width="292" height="400" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Qua tập sách nhỏ, cùng với những lời pháp thoại của Sư Ông, mong các bạn có thể bước đi thật an lạc, và cảm nhận được những hạnh phúc của cuộc sống này.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href=" http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Thien_Hanh_Yeu_Chi.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">THIẾT LẬP TỊNH ĐỘ</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Thiet-lap-tinh-do.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-430" title="Thiet lap tinh do" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/Thiet-lap-tinh-do.jpg" alt="" width="269" height="400" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đây là cuốn sách về kinh A Di Đà thiền giải. Mong rằng qua cuốn sách này, mọi người có thể hiểu rõ hơn về tịnh độ; và có được những an lạc ngay trong cuộc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có con đường nào đưa ta đến Hạnh Phúc, Hạnh Phúc chính là con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">(Nhất Hạnh)</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Thiet_Lap_Tinh_Do.rar" target="_blank">Download</a></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; line-height: normal; font-size: 12px;"> </span></p>
<h2 style="text-align: justify;">Nẻo Về Của Ý</h2>
<p style="text-align: justify;">Hãy tưởng tượng một con đường lên núi quanh theo hình trôn ốc, và người leo núi đi rất thảnh thơi, không có cảm tưởng mình đang leo núi, quên rằng mình đang leo núi. Đường có hoa thơm cỏ lạ. Đến đỉnh núi nhìn xuống mới biết mình đã leo tới đỉnh núi. Khi đi xuống cũng vậy, mình đi theo con đường trôn ốc xuống núi. Cấu trúc của &#8220;Nẻo về của Ý&#8221; cũng thế, không phải thật sự là một cấu trúc nhưng cũng là một thứ cấu trúc. Bốn mươi năm trước tác giả viết &#8220;Nẻo về của Ý&#8221; như thế, không hề có chút dụng công. Ngòi bút rong chơi nơi chốn núi đồi. Trong bốn mươi năm tại hải ngoại, tác giả có duyên viết được những cuốn sách được độc giả hâm mộ và xuất bản bằng hàng chực thứ tiếng, nhưng trong thời gian ấy, tác giả không hề nghĩ đến việc dịch &#8220;nẻo về của Ý&#8221;. Nhưng Mobi Warren, cô học trò đã học tiếng Việt với tác giả từ lúc 19 tuổi, đã đọc &#8220;nẻo về của Ý&#8221; bằng tiếng Việt và đã yêu thích nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuốn sách viết về những người rời bỏ quê hương đột ngột, không biết có còn được trở lại quê nhà hay không, không đem được gì theo ngoài một cuốn &#8220;Nẻo Về Của Ý&#8221;! Có những độc giả tri kỷ ở quê nhà và ở hải ngoại như thế. Nẻo về của Ý sẽ làm sống dậy kỉ niệm và tình thương trong lòng những ai đã từng yêu chuộng nó. Các bạn có thể xem &#8220;Nẻo về của Ý&#8221; như một cuốn tiểu thuyết hoặc một thiên ký sự. Đường xưa mây trắng đang được làm thành phim; Nẻo về của Ý cơ duyên mới chắc chắn sẽ tìm được nhiều tâm hồn tri kỉ mới.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8221; Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để cho tên Vua cường bạo xẻo tai cắt thị mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi, tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì, Đại Bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có giận hơn nào mà cần ném xuống? Không, chỉ có xót thương. Giữa chúng ta và đạo sĩ kia, và vị Bồ Tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có phải tình yêu đã dạy em rằng em có thể làm được như Người.</p>
<p style="text-align: justify;">- Thôi em đã lớn rồi, tự lo liệu lấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chiếu mai tôi phải đi rồi. Những dòng chữ viết đêm nay, tôi sẽ không có thì giờ đọc lại. Nguyên Hưng, cho tôi dừng ngang đây. Ngày mai tôi sẽ còn gặp em trước khi lên đường.&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_NeoVe_CuaY.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Nói Với Tuổi Hai Mươi</h2>
<h2 style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/noi-voi-tuoi-20.jpg" rel="lightbox[412]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-433" title="noi voi tuoi 20" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/noi-voi-tuoi-20.jpg" alt="" width="277" height="416" /></a></h2>
<p style="text-align: justify;">&#8230;Chúng ta rút vào trong cái vỏ của chúng ta với ước mong được yên thân. Nhưng chúng ta không được yên thân hơn chút nào. Đối diện với niềm cô đơn của chúng ta, đối diện với chính chúng ta, chúng ta không đủ sức chịu đựng. Con trai thì leo lên xe gắn máy đi tìm một thằng bạn, bất cứ thằng bạn nào, để rồi cùng vào ngồi nơi quán nước, trao đổi vài câu chuyện, nhìn người đi kẻ lại qua khói thuốc của mình. Con gái thì khoác vào một chiếc áo dài , xuống phố theo đám đông , trôi xuôi hai bên bờ đại lộ. Các em trốn không khí gia đình tìm đến nơi đám đông để rồi lại từ đám đông trở về với cái cô đơn của mình. Các em không có bản lĩnh thực sự cho nên các em không dám đối diện với cái cô đơn ấy. Và các em phải thường trực chạy trốn , trốn chạy sự cô đơn, trốn chạy chính bản ngã của các em.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi đó, chán ghét gia đình, em vẫn phải bám lấy gia đình; chán ghét học hành, các em vẫn phải chui đầu vào lớp học. Em vẫn phải học, phải thi, phải đỗ, phải kiếm việc làm. Không tin ở giá trị những việc em làm, em có mặc cảm rằng em giả dối. Em không thừa nhận những bảng giá trị hiện tại nhưng em vẫn phải phục tùng. Em vẫn phải phục tùng vì những lí do thật đơn giản; em phải ăn, phải mặc, phải ngủ, nói tóm lại em có nhu cầu ngũ uẩn phải được thỏa mãn. Có phải bi kịch của con người là ở chỗ vừa phủ nhận vừa phải phục tùng những ước muốn ác liệt của số phận không? Mà số phận là gì nếu không phải là những gì do con người tạo ra, để rồi nó quay trở lại khống chế chính họ?&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Noi_Voi_Tuoi_Hai_Muoi.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Làm Lại Tình Thâm</h2>
<p style="text-align: justify;">Có một cô thiếu nữ người Pháp, sinh ra ở một tỉnh cách làng Hồng độ chừng hai trăm cây số. Khi lớn lên, tới 19 tuổi, cô bỏ gia đình, bỏ nước Pháp, đi sang nước Anh để sinh sống. Người thiếu nữ Pháp đó giận mẹ, giận gia đình, giận luôn cả tổ quốc. Cô sang bên Anh sống như vậy luôn hai mươi năm. Hồi còn bé cô có bệnh, đã phải đi bệnh viện và giải phẩu nhiều lần. Bà mẹ cũng đã cố gắng làm đúng bổn phận của bà mẹ. Nhưng theo cô, bà mẹ đã không hết lòng lo cho cô. Có lẽ bà mẹ cũng có nhiều đau khổ và nhiều vấn đề. Thành ra hai mẹ con lục đục và không thương nhau. Cô gái nghĩ là bà mẹ không thương cô hết lòng. Còn bà mẹ thì nghĩ rằng mình làm như vậy là đủ quá rồi, tại vì chính bản thân mình cũng còn nhiều khổ đau và nhiều vấn đề quá. Hai mẹ con có nội kết với nhau và đã gây khổ đau cho nhau. Hai mẹ con đã leo thang trong sự làm khổ nhau, đã tưới tẩm nội kết của nhau. Trong những năm gần đây, cô bỗng thấy nhớ mẹ và muốn trở về để hòa giải với mẹ. Dầu sao những hạt giống của tình thương và của bổn phận làm con vẫn còn trong lòng cô gái đó. Và bà mẹ, tuy có giận con, nhưng cũng đã âm thầm mong con trở về.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href=" http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Lam_Lai_Tinh_Tham.chm " target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">GIẢNG LUẬN DUY BIỂU HỌC</h2>
<p style="text-align: justify;">Thầy Nhất Hạnh giảng 50 bài kệ Duy Biểu (Duy Thức). Một cách giảng Duy Thức dung dị trong sáng, đặc biệt các phần nói về Ngã và Vô Ngã (ví dụ kệ 34) rất dễ hiểu và ấn tượng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Giang_Luan_Duy_Bieu_Hoc.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Tuổi Trẻ Tình Yêu và Lý Tưởng</h2>
<p style="text-align: justify;">Này người bạn trẻ, tôi muốn mời anh, tôi muốn mời chị tham dự vào một giấc mơ, tôi tạm gọi giấc mơ ấy là giấc mơ Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ chung của chúng ta</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là có một nước Việt Nam thật đẹp, thật hiền, chơi chung với các nước Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Myanmar, với Hàn Quốc và Nhật Bản, và sau đó, với cả Trung Quốc, một cách thân ái trong tình huynh đệ, dân chúng các nước qua lại không cần chiếu khán, và tất cả sử dụng một đồng bạc chung.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là dân tộc Việt Nam biết để thì giờ ra để đi chơi, ngồi chơi, leo núi, đi biển, sống với cảnh đẹp thiên nhiên, hàng ngày có nhiều cơ hội dựng xây tình huynh đệ mà không để hết thì giờ chạy theo sắc dục, tiền bạc, quyền hành và danh vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là trẻ em và người lớn đều ý thức được rằng đất hứa, thiên đường hay cõi tịnh độ là cái đang có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại, và ta phải biết và phải có khả năng thích ý rong chơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là người Việt có khả năng sống đơn giản mà hạnh phúc, có thì giờ và tình thương để làm việc giúp cho người trong nước và ngoài nước vượt thắng nghèo khổ, bệnh tật, thất học, hòa giải được với người thân và tìm được nguồn vui sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là sông, núi, rừng, biển và ruộng vườn của chúng ta được bảo vệ an lành để chúng ta và con cháu chúng ta cũng như thế giới cũng được bảo vệ an lành và để cho mọi người được tiếp tục thừa hưởng tất cả những gì hùng vĩ, cẩm tú và giàu sang của đất nước này.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là những người Việt sống trong một nước có quyền tin theo bất cứ một tôn giáo, một chủ thuyết nào, nhưng tất cả đều thấy được rằng không có tôn giáo và chủ thuyết nào cao hơn tình huynh đệ, cao hơn lòng cởi mở và lượng bao dung, và bất cứ ai cũng học được và thừa hưởng được những châu báu của các truyền thống và quan điểm khác để làm giàu cho tuệ giác và hạnh phúc của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Giấc mơ Việt Nam là các quốc gia lân cận, kể cả Trung Quốc, biết thương mến và thưởng thức cái đẹp và cái dễ thương của đất nước, văn hóa và con người Việt Nam mà không còn có ý muốn xâm chiếm và giành giật nhau, tại vì người Việt đã học được cách bảo vệ sông núi, văn hóa và con người của mình bằng nếp chung sống hòa bình, bằng tình huynh đệ, bằng tài ngoại giao, bằng nếp sống tương trợ với các nước chung quanh mà không tin rằng chỉ có vũ khí và quân sự mới làm được chuyện ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Ô hay, bạn sẽ nói, thầy Nhất Hạnh lâu nay khuyên mình sống trong giây phút hiện tại mà bây giờ lại tìm cách trao cho mình một giấc mơ, gọi là giấc mơ Việt Nam! Thầy Nhất Hạnh có còn là thầy Nhất Hạnh nữa không, khi thầy muốn dìu mình đi vào một giấc mơ, dù là một giấc mơ thật đẹp?</p>
<p style="text-align: justify;">Người bạn trẻ ơi, sở dĩ tôi nói tới giấc mơ, tại vì giấc mơ này có thể trở thành sự thật, và đang bắt đầu trở thành sự thật. Một giấc mơ không bao giờ có thể trở thành sự thật một trăm phần trăm, nhưng nó có thể dần dần trở thành sự thật mỗi ngày, và ta có thể sống với sự thật ấy trong giây phút hiện tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý tưởng lớn, hoài bão rộng là gì, nếu không phải là một giấc mơ? Trong đạo Bụt người ta dùng danh từ Tâm Bồ Đề. Tâm bồ đề đâu có phải chỉ là giấc mơ? Tâm bồ đề là một sự thật, một năng lượng mà ta đang sống và đang cho ta nhiều niềm tin và hạnh phúc. Giấc mơ có thể trở thành sự thật từ từ trong từng giây phút của cuộc sống. Mấy mươi năm nay, không lúc nào mà tôi không đang chứng kiến giấc mơ trở thành sự thật, trong đời sống hàng ngày của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Tuoi_Tre_Tinh_Yeu_Ly_Tuong_Final_11_A5.pdf" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Đạo Phật Ngày Nay</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href=" http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Dao_Phat_Ngay_Nay.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Tuyển Tập Đoản Văn Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh</h2>
<p style="text-align: justify;">Tuyển tập gồm 10 truyện ngắn, bài viết và thuyết giảng sau:</p>
<p style="text-align: justify;">1. BÔNG HỒNG CÀI ÁO</p>
<p style="text-align: justify;">2. CHUYỆN CỦA DÒNG SÔNG</p>
<p style="text-align: justify;">3. LÀM LẠI THÂM TÌNH</p>
<p style="text-align: justify;">4. CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI</p>
<p style="text-align: justify;">5. GIỌT NƯỚC CÀNH DƯƠNG</p>
<p style="text-align: justify;">6. HẸN NHAU MÙA HOA ĐÀO SANG NĂM</p>
<p style="text-align: justify;">7. TÙNG</p>
<p style="text-align: justify;">8. TÙNG 2</p>
<p style="text-align: justify;">9. CHIẾC ÁO</p>
<p style="text-align: justify;">10. BA CÂU TRẢ LỜI MẦU NHIỆM</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/Misc_TuyenTap_DoanVan_ThichNhatHanh.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Để Hiểu Đạo Phật</h2>
<p style="text-align: justify;">Đạo Phật có một kho tàng kinh-điển phong phú hơn hết thảy các tôn giáo triết học khác. Nội một Đại-Tạng-Kinh gồm gần mười ngàn pho cũng đủ làm cho những học-giả kiên-chí nhất phải lắc đầu e ngại. Huống nữa còn biết bao nhiêu sách vở cận đại trên thế giới, trước tác, giải thích, bình luận về giáo lý đạo Phật!</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi nhờ duyên may, được học Phật từ khi còn để chỏm; đến nay tuy đã ba mươi mấy tuổi đầu rồi mà vẫn còn thấy dốt, và không biết còn phải bơi-lội bao nhiêu năm nữa trong cái biển Phật học mênh mông kia.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi nào có dám viết sách dạy ai về cái môn học mà chúng tôi tự thấy còn dốt nát ấy. Chỉ vì một số bạn hữu quá yêu ép-uổng mà phải cho in tập này đấy thôi. Chẳng phải để khoe một mớ hiểu biết cạn cợt mà chỉ là để khỏi phụ lòng bạn -hữu trông đợi. Những bài in trong tập này, nếu may mắn lắm cũng chỉ gây được trong tâm hồn người đọc những nhận-thức khái-quát về Phật Học, một môn học bao-la không bến bờ. Chúng tôi viết những bài ấy trong những thời gian khác nhau; một ít bài đã được in trong các tập-san Phật Học trong nước. Như vậy, hình như tập sách không được xếp đặt một cách nhất-trí và có hệ thống. Tuy nhiên, bạn đọc vẫn có thể, trong nội dung, tìm thấy sự nhất trí ấy của cả tập sách; bởi vì khi viết, chúng tôi đã thường đứng trên phương-diện nhận-thức-luận để trình bày vấn đề.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự bộc-bạch trên đây, chúng tôi tin-tưởng rằng các bậc cao-minh sẽ hoan hỉ chỉ giáo cho chúng tôi những chỗ nhầm lẫn, và nếu may mắn tập sách này được sự đón-tiếp ân-cần của chư-vị, chúng tôi sẽ xin nguyện gặp lại chư vị trong những tập sách khác, viết về nền triết-học và đạo-học mà chúng tôi đã cố tìm hiểu và đã sống: Đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href=" http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_DeHieuDaoPhat.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Phỏng Vấn Thiền Sư Thích Nhất Hạnh</h2>
<p style="text-align: justify;">Đạo Phật không khuyến khích việc quá coi trọng đến của cải vật chất. Nhưng đấy lại là một trong những mục tiêu phấn đấu của xã hội hiện đại. Trong một xã hội có nhiều của cải, nhiều vật dụng, đạo Phật sẽ có một vị trí như thế nào?&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Kitô giáo, nếu một người phạm tội, thì họ vẫn có thể được tha thứ hoàn toàn và họ có thể được đến nơi mà người ta gọi là Thiên đường. Còn một người ở bên Phật giáo, khi sa vào tội lỗi, thì họ phải đọa đầy vào cái vòng luân hồi miên viễn. Vậy thì khái niệm tha thứ của hai đạo này khác nhau nhiều không?&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay một số tổ chức tôn giáo trên thế giới có xu hướng trở thành những tổ chức siêu chính trị, cố tìm kiếm những ảnh hưởng đến nhà nước thế tục. Điều gì khiến các tổ chức ấy không theo đúng lý tưởng của mình mà lại càng ngày càng tham dự vào những công việc trần tục, càng ngày càng cố tìm kiếm những quyền lực của thế gian?&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/Misc_Phong_Van_Thien_Su_Thich_Nhat_Hanh.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2 style="text-align: justify;">Tứ  Diệu Đế</h2>
<p style="text-align: justify;"><a href=" http://www.hugle.net/data/ThichNhatHanh/ThichNhatHanh_Tu_Dieu_De.rar" target="_blank">Download</a></p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/thien-chua-tri-than-tam/" title="Thiền Chữa Trị Thân Tâm">Thiền Chữa Trị Thân Tâm</a> (0)<br /><small>Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có t...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/to-bo-de-dat-ma/" title="Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma">Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma</a> (0)<br /><small>I. TIỂU SỬ SƯ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
Tổ        thứ 28 Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là người...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/" title="Tịnh Tông Nhập Môn">Tịnh Tông Nhập Môn</a> (0)<br /><small>Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/" title="Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát">Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát</a> (0)<br /><small>Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm ha...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p2/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe P2">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe P2</a> (0)<br /><small> 8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT          ĐƯỢC GIẢI OAN
Nhớ lại vào đầu tuần tháng...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/tuyen-tap-cac-tac-pham-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>10 Bí Ẩn Của Các Nền Văn Minh Đã Mất</title>
		<link>http://www.hugle.net/10-bi-an-cac-nen-van-minh-1/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/10-bi-an-cac-nen-van-minh-1/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 02 Feb 2010 11:07:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1001 Bí An]]></category>
		<category><![CDATA[Atlantis]]></category>
		<category><![CDATA[Bí Ẩn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=394</guid>
		<description><![CDATA[Hầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza khoảng 4.500 tuổi. Nhưng con số này chỉ là giả thuyết chứ không có bằng chứng xác thực.
1. Tuổi của kim tự tháp và tượng nhân sư Sphinx

Theo Robert Bauval, tác giả cuốn “Tuổi của Sphinx” thì “không hề [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><span class="drop_cap">H</span>ầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza khoảng 4.500 tuổi. Nhưng con số này chỉ là giả thuyết chứ không có bằng chứng xác thực.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Tuổi của kim tự tháp và tượng nhân sư Sphinx</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh1.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-large wp-image-395" title="vanminh1" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh1-450x337.jpg" alt="" width="450" height="337" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Robert Bauval, tác giả cuốn “Tuổi của Sphinx” thì <em>“không hề có bất cứ ghi chép nào, thậm chí chữ khắc trên vách đá, bia mộ hoặc chữ viết trên giấy cói”</em> gắn kết Sphinx với khoảng thời gian trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy nó được xây dựng từ khi nào? Học giả John Anthony West đã phủ nhận con số 4.500 tuổi, ông đưa ra bằng chứng là chân tượng bị phong hóa theo chiều thẳng đứng mà nguyên nhân thì chỉ có thể là do ngâm lâu dưới nước (từ những trận mưa lớn).</p>
<p style="text-align: justify;">Mưa lớn tại sa mạc là điều không tưởng trong khoảng thời gian đó và nó chỉ xảy ra cách đây 10.500 năm. Điều này có nghĩa là tuổi của Sphinx gấp hơn 2 lần so với con số 4.500 mà người ta vẫn nghĩ. Bauval và Graham Hancock ước tính Đại kim tự tháp Giza được xây dựng cách đây khoảng 10.500 năm trước Công nguyên &#8211; trước khi có nền văn minh Ai Cập. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã xây dựng chúng và tại sao?</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Những đường kẻ Nazca<br />
</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh22.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-large wp-image-396" title="vanminh22" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh22-450x483.jpg" alt="" width="450" height="483" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Những đường kẻ Nazca nổi tiếng được khắc trên một sa mạc cách thủ đô Lima của Peru 200 dặm về phía tây. Cao nguyên dài 58km, rộng 1,6km, với những đường kẻ và các khối hình khác nhau đã khiến thế giới khoa học đau đầu kể từ khi nó được phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Những đường kẻ này rất thẳng, một số đường chạy song song với nhau, nhiều đường giao nhau khiến chúng trông như đường băng của một sân bay khi nhìn từ trên cao. Nhà văn Erich von Daniken đã từng viết trong cuốn sách Chariots of the Gods rằng chúng là những đường băng dành cho tàu vũ của người ngoài hành tinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Thú vị hơn là những khối hình khổng lồ của 70 con vật được khắc trên mặt đất trong đó có một con khỉ, nhện và một con chim ruồi nằm giữa những con khác. Điều khó hiểu là những đường kẻ và khối hình này lớn đến nỗi người ta chỉ có thể nhận ra hình thù của chúng từ trên cao. Vậy tầm quan trọng của chúng là gì? Nhiều người tin rằng chúng được dùng cho mục đích thiên văn học trong khi một số khác lại cho rằng người xưa dùng chúng trong các nghi lễ tôn giáo. Một giả thuyết gần đây là các đường kẻ dẫn tới những nguồn nước quý giá. Cho đến nay vẫn chưa ai có lời giải đáp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Vị trí của lục địa Atlantis</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh3.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-397" title="vanminh3" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh3.jpg" alt="" width="350" height="222" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay có rất nhiều giả thuyết về lục địa Atlantis. Lục địa Atlantis từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới. Dựa trên những tài liệu đáng tin cậy, người ta đã xây dựng rất nhiều những giả thuyết khác nhau về lục địa này.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù Atlantis được xem là đạt tới đỉnh cao vinh quang hơn 11 nghìn năm trước, nhưng nó chỉ xuất hiện trong thư tịch khoảng 2.350 năm trước, từ 359 đến 347 năm trước Công nguyên. Atlantis được nhà triết học Hy Lạp cổ đại lừng danh Plato miêu tả là một hòn đảo tuyệt đẹp và phát triển về khoa học công nghệ nhưng vị trí của Atlantis thì rất mơ hồ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế nên nhiều người kết luận Atlantis không thực sự tồn tại. Những người cho rằng nó tồn tại thì đi kiếm tìm bằng chứng và manh mối trên mọi ngóc ngách của trái đất. Nhà tiên tri Edgar Cayce tiên đoán tàn tích của Atlantis nằm đâu đó gần quần đảo Bermuda. Năm 1969, những khối đá nhiều hình thù được tìm thấy gần đảo Bimini khiến người ta tin rằng lời tiên đoán của Cayce là đúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta còn cho rằng lục địa Atlantis có thể được tìm thấy ở châu Nam Cực, Mexico, ngoài khơi nước Anh và thậm chí cả ngoài khơi Cuba.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Lịch của người Maya</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh4.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-398" title="vanminh4" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh4.jpg" alt="" width="350" height="331" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều người hiện nay tin rằng, “ngày tận thế” của nhân loại trên Trái Đất chúng ta sẽ là ngày 21/12/2012. Niềm tin của họ dựa trên dấu tích lịch cổ của người Maya &#8211; một dân tộc từng sống ở Mexico thời cổ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Người Maya vốn nổi tiếng về sự thông thái trong các lĩnh vực toán học và thiên văn học. Dựa theo chiếc cột vốn là lịch của người Maya, được các nhà khảo cổ tìm thấy tại Mexico, thì người Maya đã tính toán và xây dựng lịch cho tổng cộng… 5126 năm. Điều đặc biệt ở chỗ: ngày cuối cùng của bộ lịch cổ này chính là ngày 21/12/2012.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo đó, vào đúng ngày này thì phần trung tâm của dải Ngân Hà chứa Trái Đất của chúng ta sẽ tạo với Mặt Trời một đường thẳng lần đầu tiên trong 26 nghìn năm. Điều này sẽ làm xáo trộn nguồn năng lượng từ Mặt Trời chuyển đến Trái Đất.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói cụ thể hơn, nguồn nhiệt của Mặt Trời vào thời điểm như vậy sẽ phóng ra cao hơn bình thường, có thể ảnh hưởng mạnh đến môi trường sống trên Trái Đất.</p>
<p style="text-align: justify;">Liệu Trái Đất của chúng ta có tan tác vào “ngày tận thế” 21/12/2012 hay không? Câu hỏi này vẫn đang được bàn cãi xuất phát từ một nguồn khác là những tài liệu lịch cổ của người Maya. Tài liệu cổ nhất còn giữ lại của nền văn minh này đã được các tu sĩ Tây Ban Nha dịch ra năm 1521 có nói về sự xuất hiện của quỷ dữ và “ngày tận thế”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5. Xác ướp tại ‘Hang Ma’</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh5.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-full wp-image-399" title="vanminh5" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/vanminh5.jpg" alt="" width="350" height="234" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1940, hai vợ chồng nhà khảo cổ học Sydney và Georgia Wheeler tìm thấy một xác ướp tại ‘Hang Ma’, một hang động cách thành phố Fallon, bang Nevada (Mỹ) 15 dặm về phía đông.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bước vào hang, họ phát hiện bộ hài cốt của 2 người được quấn bằng vải tuyn. Một bộ hài cốt được chôn sâu hơn bộ kia, phần đầu và vai phải vẫn còn nguyên vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự trợ giúp của người dân địa phương, Sydney và Georgia Wheeler đã đào được 67 cổ vật trong hang. Những cổ vật này được giám định tại bảo tàng bang Nevada, người ta ước tính chúng 1.500-2.000 tuổi. 54 năm sau, vào năm 1994, nhà nhân chủng học thuộc trường đại học California R. Erv Taylor đã giám định lại 17 cổ vật trong ‘Hang Ma’ bằng phương pháp ghi phổ khối lượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kết quả thật bất ngờ xác ướp có tuổi thọ vào khoảng 9.400 tuổi. Nghiên cứu thêm cho thấy xác ướp cổ nhất tại Bắc Mỹ này có những đặc điểm của người Aino, một chủng người da trắng sống ở vùng biển Bắc &#8211; Nhật Bản. Cho đến nay người ta vẫn chưa giải thích được mối liên hệ này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6. Những chuyến thám hiểm châu Mỹ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Châu Mỹ được Christopher Columbus “khám phá ra” vào năm 1492, tuy nhiên có nhiều bằng chứng cho thấy các nhà thám hiểm từ nhiều nền văn minh khác đã đến châu Mỹ trước cả Columbus.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient1.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="aligncenter frame size-large wp-image-400" title="ancient1" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient1-450x342.jpg" alt="" width="450" height="342" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta đã tìm thấy những đồng xu La Mã và Hy Lạp, vật dụng bằng gốm của người Do Thái cổ và của người châu Á tại Mỹ và Mexico, tượng thần Isis và Osiris của người Ai Cập tại Mexico.<br />
Ngoài ra còn có những dấu vết chứng minh sự hiện diện của người Ai Cập tại hẻm núi Grand Canyon. Những chuyến thám hiểm châu Mỹ cũng được nhắc đến trong thần thoại và văn học dân gian của nhiều dân tộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta có được rất ít thông tin về những chuyến thám hiểm trước thời của Christopher Columbus.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>7. Tàn tích ngoài khơi Nhật Bản</strong></p>
<dl id="attachment_401" class="wp-caption aligncenter" style="width: 410px; text-align: justify;">
<dt class="wp-caption-dt"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient2.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="size-full wp-image-401" title="ancient2" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient2.jpg" alt="" width="400" height="294" /></a></strong></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Các nhà khoa học phát hiện ra những cấu trúc đá kỳ lạ, trông như phế tích của kim tự tháp ngoài khơi đảo Okinawa, Nhật Bản</dd>
</dl>
<p style="text-align: justify;">Dưới độ sâu 30 m ngoài khơi đảo Okinawa, các nhà khoa học phát hiện ra những cấu trúc đá kỳ lạ, trông như phế tích của kim tự tháp có thể do một “nền văn minh đã mất” nào đó xây dựng. Người ta nhận thấy sự hiện diện của đường phố được lát đá, giao lộ, những án thờ lớn, bậc thang dẫn tới các quảng trường&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Masaaki Kimura, một nhà địa chất biển tại Đại học Ryukyus cho biết: <em>“Tôi sững sờ khi nhìn thấy một chiếc cổng khổng lồ được xếp từ nhiều tảng đá lớn tương tự như những công trình thời tiền sử thường thấy tại các thành phố của người Inca”.<br />
</em><br />
Trong hơn 15 năm, Masaaki Kimura đã lặn xuống khu vực này để đo đạc và tìm hiểu sự hình thành của nó. Nhiều người phỏng đoán đây có thể là lục địa Lemuria.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>8. Lục địa Lemuria</strong></p>
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_402" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px;">
<dt class="wp-caption-dt"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient3.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="size-large wp-image-402" title="ancient3" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient3-450x333.jpg" alt="" width="450" height="333" /></a></strong></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Nếu thế giới Mu thực sự tồn tại, thì nó nằm ở đâu?</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Lemuria, hay còn gọi là Mu, một lục địa tồn tại ở Thái Bình Dương cùng khoảng thời gian với Atlantis, dường như đã bị quên lãng, cho dù nó chính là đối cực tinh thần với Atlantis. Theo truyền thuyết của thổ dân trên nhiều hòn đảo, thiên đường nhiệt đới Mu nằm đâu đó ở vùng biển Thái Bình Dương nhưng đã bị nhấn chìm cùng với công dân của nó nhiều nghìn năm trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Người Lemuria tin rằng, chủ nghĩa duy vật không quan trọng, thay vào đó, họ chú ý nhiều hơn tới chữa bệnh, nghệ thuật, âm nhạc và tâm linh. Cho đến nay người ta vẫn tranh cãi liệu thế giới Mu có thực sự tồn tại, nếu có thì nó nằm ở đâu?</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>9. Thành phố chìm ngoài khơi Cuba</strong></p>
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_403" class="wp-caption aligncenter" style="width: 410px;">
<dt class="wp-caption-dt"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient4.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="size-full wp-image-403" title="ancient4" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient4.jpg" alt="" width="400" height="286" /></a></strong></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Thành phố chìm ngoài khơi Cuba? Đây vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp</dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Tháng 5/2001, Công ty truyền thông kỹ thuật số Advanced Digital Communications (ADC) của Canada đã có một phát hiện thú vị trong khi đang thám hiểm đáy biển thuộc lãnh hải Cuba. Thiết bị định vị siêu âm dưới nước đã chụp được các bức ảnh về những khối đá có cấu trúc đối xứng, trông giống tàn tích của một thành phố.</p>
<p style="text-align: justify;">Paul Weinzweig, thuộc công ty ADC cho hay: <em>“Tự nhiên không thể tạo nên những khối đá cân nhau đến vậy, chắc chắn không phải bàn tay của tự nhiên nhưng chúng tôi vẫn chưa biết nó là cái gì”. </em></p>
<p style="text-align: justify;">Những cuộc thăm dò sau này thu hút nhiều sự quan tâm của thế giới trong đó có kênh truyền hình National Geographic. Năm 2003, một nhóm nghiên cứu đã gửi một chiếc tàu ngầm nhỏ xuống để thăm dò những công trình của “một trung tâm đô thị lớn”.<em> “Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa có đủ bằng chứng để khẳng định đây là một thành phố”</em>, Paulina Zelitsky nói.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>10. Những kho báu của người Ai Cập tại hẻm núi Grand Canyon</strong></p>
<div class="mceTemp mceIEcenter" style="text-align: justify;">
<dl id="attachment_404" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px;">
<dt class="wp-caption-dt"><strong><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient5.jpg" rel="lightbox[394]"><img class="size-large wp-image-404" title="ancient5" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/02/ancient5-450x340.jpg" alt="" width="450" height="340" /></a></strong></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Bản đồ dẫn tới kho báu được cất giấu tại hẻm núi Grand Canyon </dd>
</dl>
</div>
<p style="text-align: justify;">Ngày 5/4/1909, tờ ArizonaGazette đăng tải một bài báo có tựa đề: “Thám hiểm Grand Canyon: Những phát hiện đột phá minh chứng người cổ đại di cư từ phương Đông”. Theo bài báo, chuyến thám hiểm do Viện Smithsonian tài trợ đã tìm ra nhiều cổ vật khẳng định sự tồn tại của các kho báu được cất giấu tại hẻm núi Grand Canyon.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên trong một hang động, người ta tìm thấy các phiến đá có khắc chữ tượng hình, các công cụ và vũ khí bằng đồng, tượng các hoàng đế Ai cập và các xác ướp. Cho đến nay vẫn chưa có ai khẳng định được tính xác thực của bài báo vì người ta không thể xác định được vị trí của hẻm núi Grand Canyon. Nhiều người cho rằng đây chỉ là tin đồn nhảm, một số người lại cho rằng một thế lực nào đó đã xóa dấu vết đường vào kho báu Ai Cập.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Theo Listverse</em></strong></p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/nostradamus-2012-2009/" title="Nostradamus: 2012 (2009)">Nostradamus: 2012 (2009)</a> (1)<br /><small>Chúng ta đã đọc nhiều về ngày tận thế, đã biết về những dự đoán trong lịch của n...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/cam-thach-va-tam-linh/" title="Cẩm Thạch và Tâm Linh">Cẩm Thạch và Tâm Linh</a> (2)<br /><small>Trong thế giới đá quý, ngọc cẩm thạch (ngọc Jade) được xếp vào hàng cao cấp. Đặc...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/chuyen-tam-linh-cua-nha-ngoai-cam-phan-thi-bich-hang/" title="Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD">Chuyện Tâm Linh Của Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng-8 VCD</a> (0)<br /><small>Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc xã Khánh Hòa, h...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/bi-an-cua-pho-tuong-phat-chua-but-thap/" title="Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp">Bí Ẩn Của Pho Tượng Phật Chùa Bút Tháp</a> (0)<br /><small>Pho tượng  nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/ta-thuat-o-chau-atlantis/" title="Tà Thuật Ở Châu Atlantis">Tà Thuật Ở Châu Atlantis</a> (0)<br /><small>Trong vòng 100.000 năm sau thời điểm 200.000 năm trước Công nguyên, dân Atlantis...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/10-bi-an-cac-nen-van-minh-1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe P2</title>
		<link>http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p2/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 02 Feb 2010 09:24:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tịnh Độ]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Niệm Phật Cảm Ứng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=391</guid>
		<description><![CDATA[ 8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT          ĐƯỢC GIẢI OAN
Nhớ lại vào đầu tuần tháng 2          mười năm trước, Ái cô nương, trụ trì của chùa Đại Nhã Long Thiện, gặp      [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: justify;"><strong> 8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT          ĐƯỢC GIẢI OAN</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="drop_cap">N</span>hớ lại vào đầu tuần tháng 2          mười năm trước, Ái cô nương, trụ trì của chùa Đại Nhã Long Thiện, gặp          tôi ở trạm xe cục Công lộ, bèn nói với tôi rằng: “Chị Khán Trị, ngày 19          tháng 2 là ngày khai pháp hội của chùa tôi, tín chúng đều muốn nghe chị          giảng Phật Pháp, xin mời chị phát tâm đến”. Tôi liền nhận lời. Ngày ước          định đến liền đi, lại còn mang theo rất nhiều “vô thượng chí bảo” và          những sách về pháp môn Tịnh độ, hôm đó sau khi giảng xong, phân phát cho          các thính chúng để kết duyên. (Vô thượng chí bảo là một loại như tấm          thiếp xếp bỏ túi, in hình Tây phương Tam Thánh và những phương pháp giản          tiện về niệm Phật)</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng 2 năm sau lúc tôi đả          thất tại chùa Linh Sơn ở Đài Trung, hôm đó là ngày sư tỷ Huệ Phồn hộ          thất; khoảng hơn 3 giờ chiều, tôi đang niệm Phật trong Niệm Phật đường,          sư tỷ Huệ Phồn đi vào nhè nhẹ kéo áo tràng tôi một cái, tôi liền đi theo          Huệ Phồn ra ngoài xem coi chuyện gì, chỉ thấy một người đàn bà ở dưới          quê, hoàn toàn không quen biết, khoảng hơn 50 tuổi, đang đứng ngoài sân.          Tôi liền hỏi: “Bà ở đâu kêu tôi có việc gì?”. Bà ta nói: “Ông nhà tôi          kêu tôi kiếm bà, gặp mặt bà để nói lời tạ ơn bà. Tôi từ sáng sớm vào          thành, ở trong thành hỏi thăm khắp hết: “Sư tỷ Khán Trị ở đâu?”, trong          đó có người chỉ, nói bà ở trong Liên Xã. Đến Liên Xã, người trong Liên          Xã nói bà đang ở chùa Linh Sơn cho nên tôi tìm đến đây, muốn nói một          chuyện để bà biết, cũng là báo đáp cái ân của bà”. Tôi nghe xong lấy làm          lạ, thật chẳng biết ất giáp gì cả! Xem ra chuyện này không thể nói hai          ba lời mà xong được, vả lại quy củ Phật thất ở chùa Linh Sơn rất nghiêm,          ở sân chùa không được nói chuyện, tôi liền dẫn bà ta cùng ra phía ngoài          tường, để tiện hỏi cho rõ, lúc đó Huệ Phồn cũng đi theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Người đàn bà kia liền nói:          “Tôi là người ở trong làng Lại Lịch mười ba giáp, hồi tháng 2 năm ngoái          lúc bà giảng Phật Pháp ở chùa Đại Nhã Long Thiện, con trai của tôi là          Lại Phúc Hưng cũng có nghe giảng ở đó. Sau khi nghe xong có thỉnh “vô          thượng chí bảo” và một ít quyển sách nhỏ về nhà nữa. Từ hôm đó, nó bắt          đầu tin Phật, lại còn mỗi ngày lạy Phật, niệm Phật, y theo phương pháp          trong “vô thượng chí bảo”, hai thời khóa tụng niệm sáng tối, từ đó đến          giờ không hề gián đoạn, gần như là được đến trình độ đi, đứng, nằm, ngồi          Phật không rời tâm, tâm không rời Phật”. Tôi nghe xong rất là ngạc          nhiên, trong thế giới Ta Bà này sao lại có người có phúc khí lớn như          thế, mới nghe Phật pháp một lần, liền bắt đầu tu hành sớm tối như vậy?          Tôi liền hỏi bà ta: “Con bà bao nhiêu tuổi? Làm nghề nghiệp gì? Làm sao          mà phát tâm được như thế?”. Người đàn bà đó lại nói: “Con tôi hồi năm          ngoái hai mươi lăm tuổi, nó học xong trung học vào đại học và hai mươi          ba tuổi thì tốt nghiệp đại học, song về nhà nó bị lao phổi, hàng ngày          chạy chữa Đông Tây y, chích thuốc châm cứu v.v… trong ba năm tốn rất          nhiều tiền, mãi đến sau khi nó niệm Phật sức khỏe mới đỡ hơn lúc trước,          về mặt tinh thần cũng rất lạc quan, nó cũng thường vào thành phố thỉnh          mua những sách Phật Pháp về xem, cho nên thấy nó rất là vui vẻ”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi hỏi bà ta: “Trong nhà bà          có mấy người?”. Bà nói: “Ông nhà tôi ngoài tôi là vợ chính ra, còn có          một người vợ lẽ, cùng với con tôi tổng cộng bốn người. Vì bệnh của con,          chúng tôi ba người già đều phải hết sức trông nom nó, hy vọng nó mau          lành bệnh, một lòng nuôi con phòng lúc tuổi già, hy vọng ba người già          chúng tôi có chỗ nương tựa. Nhưng đến cuối năm ngoái, đầu tuần tháng          chạp âm lịch, Phúc Hưng bỗng nhiên mời ba người già chúng tôi đến bên          giường, nói rằng: “Ba và hai má! Con trưa hôm nay sẽ vãng sanh Tây          phương Cực Lạc thế giới, ba má đều già, nhất thiết chớ quá đau buồn,          than thở tuổi già không con, anh cả của con đi qua Nhật mười mấy năm bặt          vô âm tín, nhưng ba má không cần phải lo, hiện nay anh ấy đã lập nghiệp,          thành gia thất, lấy vợ sinh con ở Nhật Bản rồi, anh ấy vào đầu tuần          tháng 2 sẽ có thư về hỏi thăm, về sau sẽ qua qua lại lại giữa Đài Loan          và Nhật Bản, cảnh già của ba má không đến nỗi cô quạnh đâu!”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông nhà tôi nghe xong những          lời như thế, liền khóc mà nói với con rằng: “Sức khỏe con gần đây đã đỡ          hơn trước nhiều rồi mà, con không được bỏ ba má. Con nên cầu Phật A Di          Đà phò hộ cho con đi”. Lúc đó Phúc Hưng con chúng tôi lại nói: “Con vốn          là đến đây để đòi nợ, ba má ba người trong đời quá khứ đã kết oán cừu          với con rất sâu, thiếu nợ của con rất nhiều, đời này đến làm con của ba          má, từ lúc sanh cho đến khi tốt nghiệp đại học, rồi bị cái bệnh lao phổi          ác ôn này, thuốc thang suốt ba năm, đến nay nợ vẫn chưa hết, con vốn          muốn chờ đến sau khi bán tiêu căn nhà này đi khiến cho ba má ba người          già nghèo cùng khốn khổ, không có chỗ nương thân, sống khổ như chết.          Nhưng năm nay nhờ gắng sức nhất tâm niệm Phật, nên đã tiêu diệt được tội          nghiệp nhiều đời, sắp vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Từ nay bốn          người chúng ta không còn oán cừu gì nữa, oán cừu đã được cởi mở hết rồi.          Ba má ba người cũng phải chí tâm niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây phương,          về sau chúng ta sẽ có thể ở chung một chỗ mãi mãi, không còn chia lìa          nữa. Mong rằng ba má nhờ kỹ lời con! Thôi thời gian đã đến rồi, đem giùm          quyển “Vô Thượng Chí Bảo” lại cho con, không được khóc, cũng không nên          động đến thân con, ba má ba người nên quay lưng lại, không nên nhìn con,          con cũng sẽ tự niệm Phật”</p>
<p style="text-align: justify;">Phúc Hưng để quyển “Vô Thượng          Chí Bảo” trong lòng bàn tay và chắp tay lại, bắt đầu to tiếng niệm Phật,          chúng tôi cũng giúp trợ niệm, mặc dù nó đã nói không nên nhìn nó, nhưng          chúng tôi cũng cứ lén lén quay đầu lại nhìn. Niệm được 20 phút, tiếng          của Phúc Hưng từ từ nhỏ dần, đến khi dứt thở, hai tay buông ra, quyển          “Vô Thượng Chí Bảo” rớt trên ngực, liền ra đi một cách nhẹ nhàng tốt          đẹp. Người đàn bà nói tới đây thở một cái, lại nói tiếp: “Nhà của tôi có          nhiều phòng đều cho mướn, số người mướn trong đó có người tỉnh này, có          người tỉnh khác đến, lâu nay thấy Phúc Hưng bị lao phổi, mọi người đều          sợ lây bệnh, nên đã đi khắp các nơi muốn dời chỗ, bây giờ nhìn thấy con          chúng tôi khi lâm chung nói chuyện một cách sáng suốt rõ ràng, tướng          trạng trang nghiêm khác người thường như thế, ai cũng khen ngợi Phật          Pháp vô biên, không thể nghĩ bàn! Thế là họ đều không dời nhà nữa. Nhưng          cái việc nó nói lúc lâm chung về anh cả của nó ở Nhật Bản, mới đầu chúng          tôi không tin, nhưng gần đây quả thực có thư anh nó từ Nhật gửi về nói          sắp về Đài Loan thăm chúng tôi, so với lời dự báo trước của Phúc Hưng          hoàn toàn phù hợp. Ông nhà tôi rất vui nói: “Nếu không có sư tỷ Khán Trị          đến dạy người niệm Phật, thì Phúc Hưng làm sao lúc lâm chung biết được          nhân duyên đời trước và cái quả sau này, đồng thời giải hết được oán          kết? Từ việc lá thư của anh cả nó từ Nhật Bản gửi về có thể chứng minh          những lời của Phúc Hưng có thể tin chắc được”. Ông nhà tôi lại nói ba          người chúng tôi về sau có thể sống an nhiên trong tuổi già đây đều là          công đức của sư tỷ Khán Trị. Cái ân tình này nhất định cần tôi phải đến          Đài Trung tìm sư tỷ Khán Trị, gặp mặt sư tỷ để nói ra việc cảm ứng đặc          biệt này cho sư tỷ biết, cũng là để sư tỷ hoan hỷ! Đây chính là chúng          tôi muốn báo đáp ân tình của sư tỷ, nên tôi từ sáng sớm đến bây giờ mới          tìm ra được sư tỷ đấy!”. Sau khi nói những lời cám ơn liền muốn đi về.          Lúc đó tôi liền hỏi bà: “Nhà bà ở đâu? Chồng của bà tên họ là gì?”. Bà          ta nói: “Tôi ở số 13 giáp, đường Đại Nhã, chồng tôi tên là Lại Tuấn, con          tên là Lại Phúc Hưng”. Lúc đó sư tỷ Huệ Phồn ở kế bên, nghe từ đầu đến          đây bỗng nhiên nói với bà ta: “Thì ra cô là em dâu Tuấn, tôi là chị của          ông Tuấn, do vì nhiều năm không có qua lại, thật có lỗi! Xin mời đến nhà          tôi dùng trà đi”. Bà ta nói cám ơn xong liền bỏ đi. Lúc đó mặt trời đã          lặn về phía Tây, hơn 5 giờ rồi. Ba người chúng tôi đứng ngoài tường chùa          Linh Sơn, lâu hơn hai tiếng đồng hồ.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai câu chuyện vãng sanh ghi          đúng sự thật ở trên đều có thể chứng minh đích thực có Phật A Di Đà,          đích thực có thế giới Cực Lạc ở Tây phương; niệm A Di Đà Phật đích thực          có thể giải được oán kết, tiêu diệt được oán thù trong nhiều đời nhiều          kiếp. Căn cứ theo Đức Phật Thích Ca trong Kinh A Di Đà có nói: “Chúng          sanh trong cõi đó, thường vào lúc sáng sớm đều lấy đãy đựng hoa tốt đem          cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về          bổn quốc…”. Đây là Đức Phật nói về chúng sanh ở Tây phương, sau khi vãng          sanh về đó liền có được thần túc thông. Còn căn cứ theo kỳ tích của Lại          Phúc Hưng mà suy đoán, Lại Phúc Hưng lúc lâm chung đã phát sanh được tha          tâm thông, mặc dù không thể tìm ra chứng cứ trên kinh điển, nhưng sự          thật là như thế. Các độc giả thông minh có thể giải thích dùm cho tôi          không?.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/01/lrg-4260-pham_pho_mon_04-jpg.jpg" rel="lightbox[391]"><img class="aligncenter size-full wp-image-43" title="lrg-4260-pham_pho_mon_04-jpg" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/01/lrg-4260-pham_pho_mon_04-jpg.jpg" alt="" width="352" height="500" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> 9. BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG, NHỜ          TIẾNG NIỆM PHẬT ĐƯỢC CẤP CỨU</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ở Đài Loan có câu tục ngữ:          “Không có quỷ không làm cho chết người” thật là đúng. Mấy năm gần đây, ở          các nơi, tai nạn giao thông liên tiếp không ngừng, có lẽ là cô hồn uổng          tử các nơi quấy phá, mắt phàm của chúng ta không thể thấy biết được. Tuy          không thấy được, nhưng nếu như biết trì một câu Thánh hiệu vạn đức hồng          danh A Di Đà Phật thì có thể khiến cho những ma quỷ đó bỏ đi ngay tức          thời, lập tức được an nhiên vô sự. Độc giả nếu như không tin thì mấy câu          chuyện thật sau đây sẽ chứng minh:</p>
<p style="text-align: justify;">Vị liên hữu Khưu Liên Châu          hiện ở làng Nội Tân phía ngoài cửa thành Nam Đài Trung, mọi người đều          gọi bà là sư tỷ Ngọc. 10 năm trước bà mở một tiệm chụp ảnh ở gần chợ Đệ          Tam đường Đài Trung. Một hôm sư tỷ Ngọc ở ngã tư trước bưu điện, bị một          chiếc xe hơi không rõ của hãng nào đụng ngã trên đường, chiếc xe gây ra          tai nạn bỏ chạy mất! Tội nghiệp sư tỷ máu ra đầy mặt, hơi thở thoi thóp          không còn biết gì nữa, những người vây quanh nhìn nhau, không nhận biết          người bị thương là ai? Ngay lúc đó có một anh lính trẻ đi đến, bỗng          nhiên kêu lên: “Sư tỷ! Đây là sư tỷ ở tiệm chụp hình đây mà!”. Lập tức          cõng bà ta đưa về tiệm chụp hình, con cái bà vừa thấy liền hoảng kinh,          thất sắc, cả nhà đều lớn tiếng niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát,          anh lính trẻ kia cũng niệm Phật cùng với mọi người. Không bao lâu sau sư          tỷ Ngọc đang hôn mê bỗng lên tiếng, chỉ nghe bà ta nói rằng: “Các người          đông như thế muốn ta đi theo các người, ta không đi! Các người lái xe          hơi lại, muốn ép ta lên xe hả? Ta cũng không đi. Không đi là không đi!          Ta là đệ tử của Tam Bảo, suốt ngày niệm A Di Đà Phật, chỉ muốn đi Tây          phương thôi, làm sao có thể tùy tiện đi theo các người được chứ? Nếu như          Phật A Di Đà đến tiếp dẫn thì ta mới đi”. Nói đến đây ngừng một hồi, lại          tiếp: “Rất đông người như thế, muốn đến kéo ta đi, nghe tiếng niệm Phật          của các con ta, đã chạy ra ngoài hết rồi, xe hơi cũng chạy luôn”. Không          bao lâu sư tỷ tỉnh táo lại hẳn, lúc tôi đến thăm thì trên đầu bà ta đã          được bao lớp vải gạc và may mười mấy mũi, bà kể việc bà thấy rất nhiều          tà ma quỷ quái muốn ép bà lên xe. Tôi khen ngợi công sức niệm Phật của          bà là rất tốt. Nếu như là người không có tin Phật hoặc không dụng công          sức nhiều, thì thần thức không sáng suốt, thấy xe hơi có thể đi được,          liền vui mừng đi theo họ ngay, há chẳng đáng sợ ư? Thì ra anh lính trẻ          cõng bà về nhà là một liên hữu trong ban thanh niên của Liên Xã, đã          nhiều năm nghe kinh với Bính Công ân sư, do đó mọi người đều biết nhau,          sư tỷ Ngọc nếu không gặp được anh ta, nhẫn đến tự mình không được chánh          niệm rõ ràng, chắc chắn khó hồi phục mạnh khỏe.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 10. XE HƯ, NIỆM PHẬT ĐƯỢC          HIỆU LỰC</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sư tỷ Hoàng Khoan Châu là phó          ban trưởng của ban Cửu Liên, là người từ bi, cũng là trưởng ban của Ban          48 lời nguyện. Nhà sư tỷ ở đường Nguyên Tử thành phố Đài Trung, là một          gia đình theo Phật, rất là phát tâm Bồ Đề, lúc bình thường, thường          khuyên mọi người niệm A Di Đà Phật và thiện xảo phương tiện độ người.          Hàng xóm có con nít hay bị hoảng sợ, giựt mình không ngủ được, đều bồng          lại nhờ sư tỷ gia trì chú Đại Bi, đứa trẻ liền nhẹ nhàng thoải mái dễ          ngủ. Vào khoảng 8 năm trước, một hôm tôi đến nhà sư tỷ chơi, thấy một          phụ nữ trẻ tay bồng một đứa bé, xin sư tỷ niệm chú Đại Bi cho cô ta,          niệm xong, sư tỷ còn khuyên cô ta rằng:“Lúc cô bồng con cho bú, cũng          phải thường niệm A Di Đà Phật, con của cô sẽ được dễ nuôi. Thực ra lúc          nào ở đâu cũng có thể niệm, lúc quét nhà, lúc giặt đồ cho đến khi đi          đường, một bước một tiếng đều có thể niệm A Di Đà Phật, như thế trong          nhà của cô sẽ được bình an vô sự”. Sư tỷ hỏi cô ta: “Chồng của cô làm          nghề gì?”. Cô ta đáp: “Tài xế xe hàng”. Sư tỷ nghe vậy lại nói rất khẩn          thiết nói rằng: “Cô về nhà nhất định phải chỉ cho chồng cô niệm A Di Đà          Phật, nếu như lúc gặp tai nạn hay nguy hiểm phải to tiếng niệm “Nam Mô A          Di Đà Phật” thì có thể tiêu tai khỏi nạn”. Người phụ nữ kia thế mà có          căn lành, lại thông minh, khi về nhà, đúng như lời sư tỷ dạy, nói cho          chồng nghe và chỉ cho chồng lúc lái xe phải niệm, lúc nguy cấp càng phải          to tiếng niệm hơn, chắc chắn có thể đổi nguy thành an.</p>
<p style="text-align: justify;">Trải qua một tháng, tôi đến          nhà sư tỷ thông báo về tin tức Ban 48 Nguyện sẽ mở hội, không hẹn mà gặp          lại người phụ nữ bồng con lần trước, trong tay bồng đứa con nhỏ và còn          dẫn chồng cô cùng đến, sắc mặt vui tươi, cầm hương hoa quả phẩm, nói là          đến để lễ Phật A Di Đà, làm cho sư tỷ vô cùng ngạc nhiên! Thì ra chồng          của cô do nghe lời khuyến cáo của vợ lúc lái xe niệm Phật được cảm ứng.          Anh nói: “Đa tạ lòng từ bi của cư sĩ dạy cho nhà tôi niệm Phật, còn dạy          cô ta khuyên tôi cũng niệm Phật. Tôi ngày hôm qua chở một xe lớn cải          xanh đi Đài Bắc, lúc về đã hơn 2 giờ khuya, đang lúc đi đến ngã tư          khoảng giữa Trung Lịch và Đào Viên, bỗng nhiên xe không thể chạy được          nữa, làm thế nào cũng không nhúc nhích, rất kỳ lạ là trong lúc tứ chi          mệt mỏi, tinh thần lo lắng không biết làm thế nào, bỗng nhớ lại việc cư          sĩ dạy nhà tôi niệm Phật, lúc đó tôi đang ngồi sau tay lái, hai tay ôm          chặt tay lái, có hơi buồn ngủ, miệng nói mơ mơ màng màng rằng: “Vợ của          tôi đi đến vị cư sĩ tin Phật ở đường Nguyên Tử, vị đó dạy vợ tôi lúc nấu          cơm, quét nhà phải niệm A Di Đà Phật, lúc bồng con cho đến lúc giặt đồ          cũng phải niệm A Di Đà Phật, và dạy tôi lúc nguy hiểm hay lúc gặp tai          nạn càng nên to tiếng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”. Đang lúc nói đến đó,          thật là lạ lùng, trong tích tắc chiếc xe chở hàng tự nhiên bỗng khởi          động lại chạy về Đài Trung, tôi lập tức giật mình tỉnh giấc, thấy có một          chiếc xe khác cũng đang đậu ngủ, lúc đó cũng mới thức dậy, trời còn chưa          sáng, tôi liền lái xe về nhà an nhiên vô sự”</p>
<p style="text-align: justify;">Anh tài xế đó lại nói: “Cư          sĩ! Nhà của tôi muốn thỉnh an vị một tượng Phật để lễ bái, không biết có          được không?”. Sư tỷ rất vui nói: “Rất tốt! Rất tốt!”. Sư tỷ liền tặng          cho anh ta một bức Tây phương Tam Thánh của Hồng Kông in, chỉ cho anh ta          về để khuôn kiếng và chỉ cho anh ta phương pháp các thời khóa đơn giản          sáng tối.</p>
<p style="text-align: justify;">Vợ chồng tài xế cảm tạ rồi ra          về. Đoạn cảm ứng bất khả tư nghì này là chính tai tôi nghe được. Xin          khuyên chư vị: Thân người khó được, ai có miệng đều nên niệm A Di Đà          Phật, một câu đại chú vương vạn đức hồng danh, đời này gặp được chớ nên          bỏ qua!</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 11. TO TIẾNG NIỆM PHẬT, ĐUỔI          ĐƯỢC OAN HỒN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chí tâm niệm được một câu lục          tự hồng danh, cũng có thể giải được oán cừu của người khác. Câu chuyện          xảy ra vào tháng 4 năm Dân Quốc thứ 46, ở ngay cửa rạp hát Đông Bình ở          khu trung tâm, có một chiếc xe tải lớn vì muốn tránh xe đạp mà tông          thẳng vào trong rạp hát Đông Bình, ngã hai cây cột lớn ở hành lang gây          ra tai họa tử thương sáu người, trong đó có một người bị thương nặng          chết liền là một bà cụ hơn sáu mươi tuổi, bà ta mới từ Đài Bắc về đây          hôm trước, do vì cãi nhau với đứa con trai mà bỏ nhà ra đi đến nhà con          gái ở Đài Trung đây. Con gái bà ta lại rất hiếu thuận với mẹ, khuyên bà          không cần phải về, đứa con rể cũng rất vui tiếp bà ở lâu lại Đài Trung.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày hôm đó khoảng 5 giờ          chiều, bà cụ này tắm, xong lại tắm cho đứa cháu gái nhỏ nhất, sau đó          cõng đứa cháu gái nhỏ đi ra ngoài chơi, đến dưới hành lang rạp hát Đông          Bình, tội nghiệp cho bà ta bị xe đụng vào đầu chết liền, may mà đứa cháu          gái đang cõng trên lưng lại bình an vô sự. Qua ngày sau, sau khi hỏa          táng, lấy tro xương làm lễ vĩnh biệt ở nhà con gái, mời được mấy vị đạo          sĩ về làm lễ siêu bạt vong linh. Hôm đó đứa con trai của bà cũng từ Đài          Bắc vội vã đến, tay trái cầm gậy, tay phải cầm phướng, đi theo đạo sĩ          khóc thút tha thút thít làm người con hiếu nam. Đang lúc nghi lễ ồn ào,          bỗng người con hiếu nam, gậy và phướng đang cầm trong tay, một chân còn          bên trong cửa, một chân ngoài cửa đứng nghệch ra đó, không nhúc nhích          gì, tròng mắt ngây ra hơi nhướng cao, trong miệng thở khò khè, gương mặt          xám đen.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đó          ở nhà kế bên là vị liên hữu cư sĩ Hà Tùng Vinh, vợ là sư tỷ Hà Trần          Nguyệt Nga. Tối đó sư tỷ Nguyệt Nga đang ngồi trên ghế ngay cửa tay cầm          xâu chuỗi niệm Phật, bỗng nhiên nghe ở cửa nhà kế bên có tiếng la lớn,          không biết xảy ra chuyện gì, vừa rồi tiếng chiêng trống hãy còn vang,          tại sao lập tức biến thành âm thanh hỗn loạn như thế. Sư tỷ Nguyệt Nga          vì lòng hiếu kỳ xui khiến, trong tay cầm xâu chuỗi, trong miệng vẫn niệm          danh hiệu Phật, đi đến gần xem thử. Vừa nhìn thấy hình dáng của người          con hiếu nam như thế, sư tỷ Nguyệt Nga giựt mình hoảng sợ không tự chủ          được, lớn tiếng la lên “Nam mô A Di Đà Phật”, niệm Phật to tiếng như thế          liên tục được hai phút, sau đó sư tỷ Nguyệt Nga nói: “Nói thật tình          nghe, lúc đó tôi to tiếng niệm Phật hết sức như thế thật tình là do sợ,          không nén được mà niệm ra, hoàn toàn không phải do vì cứu người mà niệm.          Nhưng thật không thể nghĩ bàn, người con hiếu nam đang đứng ngây ra đó,          nghe được tiếng niệm Phật, sắc đen trên mặt dần dần tan đi, tay chân          cũng hoạt động trở lại, tròng mắt hết ngây dại, không bao lâu lại hồi          phục như cũ, cây gậy trong tay trái, lá phướng bên tay phải lại tiếp tục          phất phơ đi theo đạo sĩ bình an vô sự”</p>
<p style="text-align: justify;">Qua ngày kế, người con hiếu          nam đó muốn đem bài vị và tro xương của mẹ thỉnh về Đài Bắc an táng,          liền đến cảm tạ sư tỷ, anh ta nói: “Ngày hôm qua may mắn được sư tỷ niệm          A Di Đà Phật, nếu không thật không thể tưởng tượng được, tôi không biết          niệm Phật có lợi ích như thế”. Sư tỷ Nguyệt Nga nhân cơ hội khuyên anh          ta: “Sau khi anh về nhà cần phải niệm hàng ngày, thì có thể giải oan kết          với mẹ anh, anh cũng có thể tiêu tai giải nạn, tiền đồ rạng rỡ không          lường”. Người con hiếu nam đó vừa nhận lời vừa cảm tạ mà về.</p>
<p style="text-align: justify;">Qua ngày hôm sau nữa, sư tỷ          Nguyệt Nga đem cái việc ghê sợ của ngày hôm kia kể cho tôi nghe từ đầu          đến cuối. Sư tỷ nói: “Tối hôm kia việc xong rồi, tôi vẫn còn sợ đến nỗi          không dám vào nhà, ngồi một mình trên ghế ngoài cửa niệm Phật, niệm đến          11 giờ càng nghĩ càng thấy kỳ lạ, cho dù bị cảm dịch (lúc bấy giờ đang          có dịch cảm) cũng không thể có cái lý chỉ hai phút mà khỏi được, không          tránh khỏi phải mời bác sĩ chích thuốc, uống thuốc mới có thể bình an”.          Sư tỷ Nguyệt Nga là một người thông minh, sư tỷ suy đoán có lẽ là mẹ của          người con hiếu nam kia, do vì cái chết thê thảm bất ngờ, oan hồn không          tan, ôm lòng hận con trai của bà đã gây gổ với bà, mới khiến bà đến Đài          Trung gặp tai họa thảm khốc này. Thế là lúc dẫn vong, liền đi đến con          trai của bà tính nợ, oan hồn nẹp cứng đầu cổ của con trai bà, làm cho          anh ta gần như chết. Làm xong bà ta đi lại (hướng của sư tỷ) sư tỷ vừa          thấy liền niệm to “Nam mô A Di Đà Phật”. Ai ngờ sức đại từ bi, sức đại          thần thông của sáu chữ hồng danh này lại công hiệu lớn như thế, nhất là          lúc đó sư tỷ sợ đến niệm Phật hết sức, cũng có thể nói là nhất tâm bất          loạn, cho nên mới có được hiệu quả lớn như thế, đồng thời hồn quỷ nghe          được Thánh hiệu, tâm oán hận đều được tiêu trừ, cho nên mới thả tay ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị! Chúng ta thử nghĩ          xem, nếu như khuyên người học Phật, niệm Phật, mọi người đều nói: “Không          có tiền bố thí không dám tin Phật”. Những hạng người này sao mà phước          mỏng như thế? Bạn hãy xem sư tỷ Nguyệt Nga chỉ là niệm có mấy câu Phật          hiệu, không có hóa ra được đồng xu nào mà làm ra được công đức bố thí          lớn, cứu được mạng người còn hơn xây tháp bảy tầng. Sư tỷ Nguyệt Nga          tánh tình hiền hậu, phẩm hạnh đoan chánh, đã từng được bầu là người mẹ          mẫu mực của thành phố Đài Trung, là một người vợ hiền mẹ tốt, con cháu          đầy nhà, gia đình rất là tốt đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 12. NIỆM PHẬT CÓ THỂ ĐỘ ĐƯỢC           HUNG THẦN ÁC SÁT</strong><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> Vào thời đại khoa học          hưng thịnh của thế kỷ 20 này, nếu nói với người nào đó rằng: “Sức khỏe          bình thường nếu như xung khắc với hung thần ác sát, các loài linh quỷ          v.v&#8230; thì sẽ chết”, những người tự cho mình là nhân vật tân tiến kia          chẳng những không tin mà còn nói là mê tín, không phù hợp với trào lưu          thời đại! Thế thì giới Phật giáo có nên, hay không tin những việc “tương          xung tương sát” này? Theo cách nhìn của tôi thì: Thà là tin nó có, nhưng          không a dua theo lễ bái, hoặc cầu họ che chở.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu như chí thành khẩn thiết          niệm câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, liền có thể gặp dữ hóa lành, gặp quỷ          mà được bình an vô sự. Đầy đủ được diệu pháp cứu cánh này, hung thần ác          sát bị câu chú vương trong các chú chánh đại quang minh này, sợ đến nỗi          chạy ra khỏi chín tầng mây luôn! Có lẽ một câu Thánh hiệu vạn đức hồng          danh này hàng phục được cả tâm ý của loài ác quỷ sát thần si mê không          biết quay đầu hàng phục này, hàng phục một cách tâm phục khẩu phục, được          chuyển sanh về đường lành cũng không chừng, sau đây xin dẫn ra ba câu          chuyện thật để chứng minh:</p>
<p style="text-align: justify;">Liên hữu Lý Chuẩn là phó ban          trưởng ban Phương Quảng, ngụ ở đường Kiến Trung khu Đông, thành phố Đài          Trung, nhà của bà có phòng ốc dư cho tài xế chở hàng loại trung mướn. Vợ          anh tài xế đó tên A Châu, năm đó 31 tuổi. Vào buổi sáng ngày 20 tháng 12          âm lịch năm rồi, đến một cửa hàng đồ ngoại đường Nam Kinh, muốn lấy y          phục mới đặt đem về. Lúc đó bỗng nghe tiếng trống nhạc ầm ĩ trên đường,          có người lớn tiếng rằng: “Ngài Tam Tạng Nghệ Các thỉnh kinh về rồi!”. Có          người lại nói: “Vòng hoa, xe hoa nhiều quá!”. A Châu ở trong tiệm nghe          như thế, khởi tâm hiếu kỳ ra xem thử, không ngờ chỉ thấy tám người          khiêng một cỗ quan tài to, A Châu liền rùng mình một cái, miệng cứ nói          suốt là đau đầu, ở ngực như có khối đá đè, liền bị hôn mê ngã xuống. Lúc          đó người trong tiệm đồ ngoại hết hồn, vội vàng kêu một chiếc xe ba bánh          và phái một người hộ tống đưa đi, ngang qua cửa bệnh viện Ngụy Bảo Thuận          đường Phục Hưng thì xuống xe, đỡ bà ta xuống, trước mời bác sĩ chích          thuốc cho bà ta, sau đó đưa bà ta về nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị liên hữu Lý Chuẩn nhìn          thấy A Châu hôn mê bất tỉnh nhân sự, ngũ quan và móng tay đều đen thâm,          kinh sợ đến mức la to lên:“A Di Đà Phật đến cứu mạng!”. Lúc đó các công          nhân nhà kế bên của anh tài xế loại trung đó nghe tiếng người kêu la đều          chạy lại, chỉ thấy hai mắt của A Châu trắng dờ, toàn thân đều đen, hôn          mê bất tỉnh, mọi người đều nói không có hy vọng sống lại, có người gọi          điện thoại đến miền Nam kêu chồng cô ta về; có người gọi điện thoại kêu          má chồng của cô ta lại; chỉ có vị liên hữu Lý Chuẩn là trấn tĩnh, cầm          xâu chuỗi trên tay đặt lên ngực A Châu, miệng niệm “A Di Đà Phật”, “Quán          Thế Âm Bồ Tát ” không dứt, khẩn cầu Phật, Bồ Tát từ bi cứu giúp A Châu.          Niệm được 20 phút, hai mắt và da thịt của A Châu dần hồi phục như cũ,          miệng nói: “Sư cô! Bà thật là đại ân nhân cứu mạng tôi, tôi gần như bị          đè đến muốn đứt hơi, đang lúc muôn phần đau khổ, xâu chuỗi của bà để          trên ngực của tôi, lại nghe được tiếng niệm A Di Đà Phật, sức khỏe dần          dần cảm thấy nhẹ nhàng trở lại. Cám ơn sư cô đã thi ân cứu giúp”.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người hàng xóm lăng          xăng chúc mừng cho A Châu: “Chúc cô may được người niệm Phật cứu thoát          mạng, nếu không thì ba đứa con gái của cô trở thành mồ côi rồi!”. Nghe          nói hồi tháng 7 năm ngoái trong hẻm đối diện có một cô gái mới 17 tuổi          đi chợ, cũng xem người ta đưa đám tang, về nhà liền la lớn đầu đau tim          lạnh, thuốc men gì cũng không hiệu quả, rồi qua đời. Càng bất hạnh hơn          là hôm đưa đám tang cô gái này, thì vị nữ chủ nhân của một ngôi nhà ở          đầu hẻm là người tin theo ngoại giáo, lúc đó đang đứng ở bên cửa xem          cũng bỗng bị đau đầu, cũng đồng chứng bệnh với cô kia, thuốc men gì cũng          không hiệu quả, rốt cuộc cũng qua đời. Nghe chuyện của người hàng xóm,          mọi người đều chúc mừng cho A Châu. Đây là chuyện trong tháng 2 năm nay,          vị liên hữu Lý Chuẩn đến Liên Xã, chính miệng nói với tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 13. BÊN BỜ SỐNG CHẾT, ĐƯỢC          CỨU SỐNG LẠI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Gia đình Liên xã niệm Phật ở          Đài Trung, tổng cộng có 48 ban, đều do lão ân sư Bính Công tổ chức và          đặt tên. Ban Song tu là một ban được lập hồi tháng 8 năm Dân quốc thứ          44, Ban trưởng Khâu Tâm Trí, Phó Ban trưởng Lâm Đức Kim, Lý Trần Trù          v.v. đều là những người rất nhiệt tâm khuyên người niệm Phật. 13 năm trở          lại đây, cứ hai tuần giảng Phật pháp một lần, chưa từng gián đoạn. Mỗi          lần trước khi giảng có cư sĩ Triệu Đàm Thuyên và phu nhân Lệ Lượng hướng          dẫn khóa tụng, cho nên ban viên mọi người gần như đều thuộc lòng kinh          chú.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 20 tháng 4 âm lịch lần          này lúc học nhơn (<em>lời khiêm xưng của bút giả Khán Trị</em>) đang giảng          “Khuyên tu pháp môn niệm Phật”, nhắc lại chuyện cảm ứng của vị Liên hữu          Lý Chuẩn cứu A Châu. Lúc đó, trong hội giảng có một vị liên hữu họ Tiêu          tên Hiệp, nhà ở đường Thái Bình, tức thời đứng dậy nói với mọi người:          “Tôi có thể chứng minh đích thật là có ma quan tài, do vì em gái tôi hồi          hai tháng trước suýt nữa bị nó hại chết. Em gái tôi tên là Tuyết ở làng          Bán Bình Lịch, vào hai tháng trước, A Tuyết sau khi sanh hơn hai mươi          ngày còn chưa đủ tháng, sáng sớm hôm đó bỗng nghe một hồi chiêng trống          của một đội nhạc, bà mẹ chồng ở nhà kế bên, nhìn không rõ ràng, cứ mãi          kêu: “Tuyết à, đi ra nhanh xem đón thần, thật là vui nhộn quá!”. A Tuyết          từ trong phòng ló đầu ra xem, thì ra không phải đám rước thần, mà là đám          tang khiêng một cỗ quan tài đi qua, tự dưng cảm giác lông tóc dựng đứng,          quay mình vào phòng, liền nghe đau đầu, ớn lạnh phát sốt, em rể tôi liền          mời bác sĩ chích thuốc, chẳng những không hiệu quả gì mà còn trầm trọng          hơn. A Tuyết liền kêu anh ta đi mượn xe hơi đến nhà tôi nhanh chóng chở          tôi đến. Tôi vừa nhìn thấy A Tuyết em tôi tim đập liên hồi, nằm trên          giường rên rỉ, lập tức đứng lên thắp ba nén hương cầu nguyện Phật, Bồ          Tát gia hộ, lại cố sức niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát. Niệm          khoảng nửa giờ đồng hồ và niệm chú đại bi vào nước cho nó uống. Sau khi          A Tuyết uống nước chú đại bi liền nói đầu hết đau, tim cũng đập nhẹ lại          nhiều, về sau sức khỏe hồi phục dần dần.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng đời người thì tai nạn          nhiều, phiền não nhiều. Sau hơn mười ngày, em rể tôi lại buồn bã đến đòi          tôi lập tức lên xe hơi đến nhà nó. Tôi hỏi là có chuyện gì? Em rể tôi          nói: Bé Anh, đứa con gái sáu tuổi của nó bị bệnh sởi bỗng nhiên biến          chứng không biết việc gì hết, hiện đặt nằm trên gạch chỉ còn có hơi thở          yếu ớt. Khi tôi đến nhà em gái xem, con bé Anh bình thường rất là lanh          lợi, bây giờ đang nằm trên nền gạch dáng vẻ như sắp dứt thở, rất nhiều          người hàng xóm đều đang than thở tiếc thương. Tôi liền cũng y như lần          trước lớn tiếng niệm A Di Đà Phật và Cứu khổ Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát          và niệm chú Đại bi vào nước, dùng muỗng canh đút nước vào miệng của bé.          Thật là Phật pháp vô biên không thể nghĩ bàn, con mắt ngây dại của bé          Anh đã biết nhìn xem người rồi. Lúc đó những người hàng xóm đứng phân ra          hai bên trái, phải. Tiếng kêu bên trái: “Anh à!”, thì đầu của bé Anh          quay qua bên trái nhìn người; tiếng kêu bên phải “Anh à!”, thì đầu của          bé Anh quay qua bên phải nhìn người. Lúc đó mọi người đều khen ngợi bà          chị vợ thỉnh được Phật tổ lại cứu sống được bé Anh, về sau cho uống          thuốc liền có hiệu nghiệm, sức khỏe cũng hồi phục lại dần dần”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiêu          Hiệp nói đến đây, trong hội chúng mọi người đều nghe thấy, tôi liền hỏi          cô ta: “Cô đã biết sự lợi ích của việc niệm Phật, tại sao lại không dạy          em gái cô xưng niệm danh hiệu Phật, hai thời sớm tối để có thể ai ăn nấy          no, tội nghiệp của người nào thì người đó tự tiêu, tự mình biết niệm há          chẳng lợi ích còn lớn hơn sao?”. Tiêu Hiệp đáp: “Tôi đã có dạy nó niệm,          tôi còn thỉnh Tây phương Tam Thánh về an vị cho nó rất trang nghiêm,          nhưng mà bốn đứa con nhỏ của nó cứ quấn lấy bên mình, không rảnh để nghe          Phật pháp, làm sao mà có thể niệm được như pháp đây? Tôi từ ba năm nay          nghe bà giảng pháp môn Tịnh độ không hề gián đoạn, hiện nay đi, đứng,          ngồi, nằm tâm không rời Phật, Phật không rời tâm, quyết định đời này          thoát khỏi biển khổ sanh tử này”. Tôi nghe xong rất là khen ngợi, nếu          không phải cô ta dụng công em gái và cháu gái ngay nơi bờ vực sanh tử          được?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 14. NƠI Ở CỦA HUNG THẦN HÓA          THÀNH TỐT LÀNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ xưa đến giờ trong nhà Phật          có câu thành ngữ: “Một người con trì trai thì ngàn Phật hoan hỉ, cửu          huyền thất tổ được siêu sanh”. Câu này lại là sự thật. Một câu danh hiệu          Phật có thể tiêu tai giải oán, nơi ở của hung thần hóa thành tốt lành.          Các vị nếu không tin, tôi xin đưa ra một việc để chứng minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc này xảy ra tại Tân Trúc          Văn Nhã Bố giáo sở. Đây là một đạo tràng Tịnh độ tông ở Đài Trung mà          chúng tôi mở ra để các liên hữu trong liên xã hoằng pháp. Từ tháng 4 năm          Dân quốc thứ 44 sáng lập đến nay, cứ cách một tuần là giảng kinh một          lần, chưa từng gián đoạn. Trong hội chúng có một vị liên hữu nam, mọi          người đều gọi là anh Kiềm. Có một hôm anh Kiềm này nói với những nhân          viên hoằng pháp rằng: “Pháp môn niệm Phật thật là tốt, thật có thể lợi          ích chúng sanh, chắc chắn có cảm ứng lớn”. Các nhân viên hoằng pháp hỏi          anh ta: “Anh niệm Phật được cảm ứng gì?”. Anh Kiềm liền nói: “Tổ tiên          nhà tôi có một phần mộ rất kỳ lạ, từ rất lâu đến nay không thể nào tảo          mộ, cũng không thể cúng tế được. Nếu như cúng tế thì sau khi cúng về,          không bệnh thì cũng chết! Nếu như có mục đồng dẫn trâu, dê ăn cỏ trên mộ          hoặc là giẫm đạp trên mộ, mục đồng và trâu, dê đó sau khi về nhà, người          và vật không chết thì cũng bệnh nặng. Vì cớ này nên dân địa phương đều          không một ai dám chạm đến phần đất của ngôi mộ này”.</p>
<p style="text-align: justify;">Đến năm Nhật Bản đầu hàng,          Đài Loan được khôi phục, một người anh họ của tôi nói với tôi rằng:          “Ngôi mộ kỳ lạ đó của chúng ta, hiện nay mộ bia đỏ hết phân nửa, nếu đi          tảo mộ, nhất định con cháu thêm phước phát tài”. Tôi nói: “Tôi không dám          nghĩ đến, tôi cũng không cần dựa vào phần mộ đó để thêm phước phát tài”.          Người anh họ đó lại nói: “Chú không đi, thì tôi tự đi quét dọn cúng tế          cũng được”. Đến ngày tiết Thanh minh, người anh họ của tôi quả nhiên          chuẩn bị ba thứ gia súc, rượu lễ đến trước mộ cúng tế. Việc này trải qua          sau đó một tháng, ba đứa con trai của người anh họ tôi lần lượt chết          hết! Các vị thử nghĩ xem việc này có đáng sợ hay không? Tôi tin rằng          không có người nào từng nghe qua việc quái dị như thế!</p>
<p style="text-align: justify;">Đến sau khi nạn lụt “bát          thất” năm Dân quốc 49, lại có một người anh họ đến nói với tôi: “Ngày          hôm qua tôi đi ngang qua cái nơi quái gở đó, nhìn thấy mộ bia bị nước          cuốn ngã đi, đầu mộ cũng bị nước xoáy một lỗ lớn, nếu như không sửa          sang, mộ này nhất định sẽ sụp tiêu đi, nếu sửa sang lại không dám động          đến, do vì nếu như vừa động đến liền xẩy ra đại họa! Làm sao bây giờ?”.          Tôi liền nói: “Không sao đâu, chúng ta đi sửa sang đi!”. Người anh họ đó          vui mừng nói: “Chú biết cách sửa sang cứ làm đi, tất cả tiền công, cát          đá, xi măng đều do tôi lo liệu, nhưng mà chú chừng nào thì làm?”. Tôi          nói “Đợi một tháng nữa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi từ khi nghe được pháp môn          Tịnh độ, mấy năm nay hai thời khóa sáng tối chưa từng gián đoạn. Từ lúc          nhận lời chắc chắn sửa sang cái phần mộ kỳ lạ kia, hai thời khóa sáng          tối xong, tôi liền hồi hướng cho tổ tiên của phần mộ đó, đồng thời chí          tâm, khẩn thiết cầu xin Phật, Bồ Tát rằng: “Bạch Phật và Bồ Tát, xin phò          hộ cho con, con sau khi biết tin Phật, bạn bè thân thích đều nói con là          mê tín, lạc hậu, con lần này nhất định muốn thỉnh cầu Phật, Bồ Tát thi          triển Phật pháp vô biên cho họ thấy, xin Phật, Bồ Tát phò hộ cho con,          sau khi sửa sang phần mộ, đừng có xảy ra những sự việc tai hại cho người          và vật.”. Tôi mỗi ngày sau khi xong hai thời khóa sáng tối, đều cầu          nguyện như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Đêm          trước tới ngày sửa sang, tôi càng khẩn thiết cầu xin, nửa đêm bèn nằm          mộng, thấy phần mộ đó, có một phần mộ nằm phía Bắc hướng về Nam, mặt          trước có một khe nước nhỏ, nước trong khe trong vắt, chảy về phía trước,          hai bên mộ có hai cây đại thọ cao lớn, mộ bia ngã xuống, ở đầu phần mộ          lộ ra một cái hang tỏ rõ sự suy sụp hoang vắng. Bỗng nhiên trong mộ xuất          hiện một người con gái hung dữ, trang phục theo lối cổ, lúc đó tôi rất          là sợ, liền chắp tay lại niệm “Nam mô A Di Đà Phật”… Nam nữ đứng gần đó          xem rất đông, trong đó có một ông già nói với tôi rằng “Đứa con gái này          trước là một con quỷ nữ rất hung dữ, do vì con cháu đời sau của nó niệm          Phật, bây giờ nó đã trở thành con quỷ lành rồi”. Tôi nhìn thật rõ ràng,          nghe cũng rõ ràng, lúc tỉnh lại thì ra chỉ là giấc mộng, trong lòng nghĩ          cảnh giới này trong giấc mộng nhất định là Phật, Bồ Tát, đại từ đại bi,          đại oai thần lực dẫn mình đi xem trước, để ngày mai mình có thể an tâm          đi sửa sang ngôi mộ. Sáng sớm, người anh họ của tôi đến nói: “Kiềm à,          tôi dẫn thợ cùng tất cả những dụng cụ như xi măng, cát đá đều đem đến cả          rồi, chú đi nhanh đi!”. Tôi mới hỏi: “Tôi xin hỏi anh phương hướng và          tình trạng chung quanh ngôi mộ đó và người chôn trong mộ có phải là          người nữ không?”. Anh họ của tôi kinh ngạc nói: “Chú có phải đã đi xem          qua trước rồi không? Nếu không thì chú làm sao biết được?”. Tôi mới nói          “Đêm qua tôi mộng thấy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đi mua hương hoa, quả          phẩm và đem theo quyển khóa tụng. Đến trước mộ nhìn xem, quả nhiên giống          y như cảnh đã thấy trong giấc mộng đêm qua. Tôi mới bày các hương hoa          quả phẩm ra, đốt đèn hương lên, lễ lạy nói: “Tôi hôm nay là chỉ đến sửa          sang phần mộ của bà, trước sẽ tụng kinh A Di Đà, chú vãng sanh và Thánh          hiệu A Di Đà Phật cho bà, bà cũng phải niệm Phật thì cũng sẽ lìa khổ          được vui, nhất thiết không được hại người, chẳng những không được hại          người trong nhà, cũng không được hại người khác”. Sau khi nói xong, liền          ở trước mộ tụng kinh niệm Phật, sau đó mới bắt đầu làm cỏ, ban đất, sửa          sang, rửa mộ bia đá cho sạch, nhìn xem tên khắc trên mặt bia tính ra          chính là bà nội của ông nội tôi. Tôi và nhóm thợ từ đó đến giờ vẫn bình          yên vô sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện kể đến đây, chắc có          người vẫn nhất định không tin. Thọ mạng của quỷ làm sao có dài như thế?          Mời các vị xem trong kinh nói đây: “Đọa lạc vào cảnh giới quỷ, thọ mạng          ngắn nhất là năm trăm tuổi”. Mà một tháng ở nhơn gian thì chỉ bằng một          ngày ở cảnh giới quỷ thôi. Như thế tính ra thì biết thọ mạng của loài          quỷ vừa dài vừa khổ! Có người vẫn còn nghi hoặc: tại sao tổ tiên lại đi          hại con cháu mình? Trong kinh Phật có nói: “Chúng sanh ngã chấp ngã          kiến, phải ở trong lục đạo đời đời kiếp kiếp. Ta, ngươi tranh đoạt,          ngươi giết ta, ta giết ngươi, cùng nhau gây tạo nhân quả, kết ân báo ân,          kết oán báo oán, đòi nợ trả nợ, cứ như thế mãi không dứt!”. Tổ tiên của          anh Kiềm cùng với cái quá khứ của ngôi mộ quái lạ kia, chắc chắn là đã          kết oán thù với nhau rất nặng, không cởi mở được, cho nên mới hung ác          hại người như thế, nếu như không có anh Kiềm chánh tín niệm Phật, dùng          sức đại từ đại bi của Phật, thì không cách gì tiêu giải được oán cừu          này. Do đây xin khuyên các vị cố gắng niệm “Nam mô A Di Đà Phật” nhiều          lên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> 15. THUỐC A GIÀ ĐÀ TRỊ          ĐƯỢC VẠN BỆNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nhân duyên hoằng pháp của          Liên xã Đài Trung đến miền Đông, khởi đầu từ đại hội diễn giảng của liên          xã Đài Trung nhân dịp tân xuân năm Dân Quốc thứ 43. Trong thính chúng có          vị nữ sĩ Hồng Lâm Trản liên tục năm ngày nghe giảng. Từ Đài Đông xa xôi          đến đây, thời gian ở Đài Trung, bà ta ở cửa hàng bách hóa Vĩnh Phong,          được sự chiêu đãi chân thành của Hoàng Hỏa Triều cư sĩ Ký phu nhân          Nguyễn Miến. Lúc bấy giờ nữ sĩ Lâm Trản rất xanh xao, vàng vọt, trên cổ          đeo một sợi dải băng, chốc chốc lại ho, bà ta hỏi Hoàng phu nhân: Ở Đài          Trung có bác sĩ giỏi không, dẫn bà ta đi xem bệnh. Ở Đài Đông bà đã từng          đi rọi X quang nghe nói là phổi bên trái có ba lỗ. Mấy tháng nay uống cả          ký Cao ly sâm chính hiệu và chích hơn một trăm mũi thuốc, đều không thấy          hiệu quả!</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đó là khoảng 5 giờ chiều,          nhà họ Hoàng là một gia đình Phật tử thuần thành, hai thời khóa sớm tối          từ nào tới giờ chưa từng gián đoạn, bà Hoàng phu nhân Nguyễn Miến mời bà          Trản đến bàn thờ lạy Phật, còn lấy một xâu chuỗi, chỉ cho bà ta phương          pháp niệm Phật và nói rõ về đạo lý trị hết được muôn bệnh của môn thuốc          A Già Đà này cho bà ta nghe. Khóa tụng xong còn cầu nguyện xin một ly          nước chú đại bi cho bà ta uống. Sau buổi cơm tối bà Miến liền nói: “Chị          Trản à, chị thật là có phước, bắt đầu từ tối nay, Liên xã của chúng tôi          liên tiếp giảng pháp năm ngày”. Tối đó liền dẫn bà ta đi nghe giảng.          Thật là không thể nghĩ bàn, đêm đó bà Trản suốt một giờ không ho một          tiếng nào, khi ngủ, ngủ thẳng đến sáng. Bà Trản cảm thấy Phật pháp thật          là lý thú, ở nhà họ Hoàng ban ngày chí tâm niệm Phật, đến tối đi nghe          giảng, liên tục năm ngày, một phần khái luợc về Phật pháp sơ cơ đã hiểu          được đôi chút, tinh thần đã có chỗ nương tựa, sức khỏe cũng tốt rất          nhiều. Bà than thở: “Người ở Đài Trung rất là có phước, người Đài Đông          chúng tôi chưa từng được nghe qua chánh pháp sâu sắc như thế này!”. Bà          Miến đáp lại: “Chị hiện nay đã hiểu rõ được cái hay của việc tin Phật,          niệm Phật, chị nên phát Bồ đề tâm, thỉnh nhân viên hoằng pháp của Liên          xã đến nơi của chị hoằng dương Phật pháp, khiến những chúng sanh có          duyên cũng được lợi ích, thì công đức của chị thật là vô lượng!”. Bà          Trản nghe xong, vui mừng nhận lời, nói: “Được! Vậy thì nhờ chị thỉnh          dùm. Tiền xe hay tiền máy bay đi lại, tôi chịu hết, nhưng chị cũng phải          cùng đi tới chỗ tôi chơi mới được”.</p>
<p style="text-align: justify;">Giao thông từ 14 năm về trước          không tiện lợi như ngày nay, đi Đài Đông chỉ một ngày là đến rồi. Lúc          bấy giờ phải mất hai ngày, phải ngủ một đêm ở Cao Hùng. Cuối cùng một          đoàn ba nguời: bà Trản, bà Miến cùng với Pháp Viên. Khi ngủ lại phòng          trọ ở Cao Hùng, thì xảy ra việc linh cảm Phật, Bồ Tát phò hộ. Nguyên là          trên chân của Pháp Viên có cái mụt nhọt, đã từng trị liệu hơn một tháng,          bị lầy rữa ra hai tấc, chung quanh không còn cảm giác đau nữa. Lúc bấy          giờ vì nhiệt tình, quên đi cái mụt nhọt trên chân, nhưng đến phòng trọ ở          Cao Hùng, phát đau đến mức không chịu nổi, bà chủ phòng trọ nhìn thấy          chân của khách đau ghê gớm như thế, liền giới thiệu nói, ở vùng này có          một loại thuốc mỡ cỏ xanh tinh luyện rất hay, có thể trị được bệnh này,          liền nhờ người mua hai hoàn. Vừa thoa vào, thật là loại thuốc có công          hiệu đặc biệt: hết đau, nuôi thịt, sanh da, ba phần đều tốt, sáng hôm          sau khỏi được phân nửa, ba ngày sau khỏi hẳn. Đây đều là sự linh cảm của          Phật, Bồ Tát từ bi đặc biệt gia hộ, thật là thuốc đến bệnh tiêu, nếu          không thì đi không được rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 16. NƯỚC ĐẠI BI KHIẾN CHO          THAI ĐÃ CHẾT SỐNG LẠI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp Viên giảng năm ngày tại          chùa Hải Sơn ở Đài Đông. Ngày viên mãn, những người nghe và người giảng          sắp sửa chia tay, cái lúc lưu luyến không rời, bỗng nhiên có một bà lão          khoảng hơn sáu mươi tuổi đến, đưa ra một câu hỏi: “Những điều của cô          giảng đều là những đạo lý giải thoát sanh tử luân hồi, cho đến cải ác          hướng thiện, thay đổi tâm tánh. Nhưng bây giờ yêu cầu tiêu trừ bệnh          hoạn, giải quyết những đau khổ, thì lại phải cầu pháp như thế nào? Cô có          thể từ bi chỉ bày cho được không?”.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp          Viên lúc đó nhìn xem bà lão này trên cổ có một cái nhọt lớn cổ áo cài          lại không được, hở ra khoảng năm &#8211; sáu tấc, Pháp Viên suy nghĩ người          ngày ắt là muốn cầu phương pháp tiêu trừ bệnh nhọt của bà ta, lúc đó          thiệt là tiến thối lưỡng nan, nếu như bảo bà ta cầu Phật, Bồ Tát gia bị,          cái nhọt lớn trên cổ sẽ hết, chưa chắc nắm chắc được không? Nếu như          không bảo bà ta cầu, nhưng mà đã phô trương Phật pháp vô biên năm ngày          rồi, có cảm ứng không thể nghĩ bàn, chung quanh lại có đông người đang          chờ nghe, Pháp Viên nhứt thời phải dùng phương tiện khéo léo đáp rằng:          “Nếu như yêu cầu tự mình hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh          khổ v.v… nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà, bảy          biến chú vãng sanh, vài trăm câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, hoặc vài ngàn          câu, vài muôn câu càng tốt; nếu như người không biết tụng kinh A Di Đà,          thì chỉ niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng được, nhưng nhứt định phải          tụng bài Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung&#8230; sau đó có yêu cầu điều          gì thì lại dùng tâm chí thành, niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia          trì nước chú Đại bi cho uống, nếu thọ mạng ở đời chưa dứt, thì có thể          giảm nhẹ đau khổ của bệnh tật; còn nếu thọ mạng ở đời sắp hết, thì nhờ          sức công đức của khóa tụng niệm Phật được vãng sanh Tây phương, như thế          thì được mãi mãi thoát ly bệnh khổ và tử khổ. Đây là phương pháp rốt ráo          vậy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày tháng như thoi đưa, thời          gian như tên bay, thoáng một cái đã một năm trôi qua, Lâm Trản ở Đài          Đông lại đến Liên xã, lần này sắc mặt tươi rói vui vẻ, so với năm ngoái          như là hai người, bệnh chứng của bà ta đã dứt hẳn không còn thấy tăm hơi          gì nữa, trọng lượng thân thể cũng tăng hơn mười kí, y phục toàn là đồ          mới may, đồ cũ không còn cái nào mặc vừa nữa, bà ta nói với Pháp Viên          rằng: “Thưa bậc nhân sĩ của Đài Đông, mọi người đều yêu cầu tôi đến mời          bà đến Đài Đông giảng diễn Phật pháp lần nữa, không những tôi niệm Phật          được cảm ứng, mà còn bà Phổ Ái Cô, trên cổ có mụt nhọt to, bà dạy bà ta          phương pháp niệm Phật và thời khóa tụng niệm, về sau lại xin nước Đại Bi          chú uống, bà ta ngày ngày đúng như pháp mà làm, cái mụt nhọt to của bà          ta đã hết hẳn, cổ áo cũng đã cài lại được rồi, ai thấy cũng đều khen là          “kỳ diệu””</p>
<p style="text-align: justify;">Bà Trản lại nói tiếp: “Không          những mụt nhọt to của Phổ Ái Cô tiêu trừ, được cảm ứng, cái việc càng          khiến cho người khó tin hơn nữa chính là việc con dâu của Phổ Ái Cô, cô          ta ở trên núi vùng phụ cận của Đài Đông, đã có mang mười tháng, người          phụ nữ này rất là siêng năng làm lụng, tự nghĩ sắp tới ngày sanh nở rồi,          trong ngoài cần phải dọn dẹp cho sạch sẽ, cả phân trong chuồng heo cũng          gánh hết mấy gánh, không ngờ từ hôm đó thai nhi ở trong bụng không còn          động đậy nữa, hỏi thăm những người lớn ở trên núi, người ta nói là lúc          quét dọn làm sạch chuồng heo động thổ, động đến thai khí, đến ngày thứ          ba vẫn không động đậy gì, người phụ nữ mang thai này, sáng sớm đã xuống          núi đến tìm mẹ chồng cô ta, Phổ Ái Cô lại không có ở nhà, cô ta tự đi          đến khoa phụ sản để khám, bác sĩ phụ sản nói: “Thai nhi ở trong bụng của          cô chết đã ba ngày rồi, tự mình sanh không phải là việc dễ, ắt phải dùng          đến khí cụ cắt thai nhi ra từng miếng, từng miếng lấy ra, hoặc là phải          phẫu thuật mới đem thai nhi chết ra được. Ngoài ra không còn cách nào          khác”.</p>
<p style="text-align: justify;">Người phụ nữ mang thai đắn đo          suy nghĩ, việc phẫu thuật lấy thai nhi ra không phải là việc nhỏ, không          có mẹ chồng hay chồng cho phép, cô không dám chủ động, liền trở về trên          núi, lại trải qua bốn ngày nữa, thai nhi trong bụng vẫn không có động          đậy gì, cô ta lại xuống núi lần nữa tìm mẹ chồng: Phổ Ái Cô, nói rõ việc          thai nhi bất động đã bảy ngày rồi, Phổ Ái Cô liền dẫn con dâu đến một          bác sĩ phụ khoa khác khám. Vị bác sĩ này cũng chẩn đoán y như vị bác sĩ          trước, nói thai đã chết trong bụng bảy ngày rồi, không cắt thai nhi ra          từng miếng từng miếng lấy ra, hoặc phẫu thuật thì không được! Phổ Ái Cô          dẫn con dâu đi về, quỳ trước bàn Phật, thắp hương đốt đèn dạy con dâu          xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bà ta bắt đầu tụng kinh. Sau đó niệm một          ly nước chú đại bi, bảo con dâu uống và phải chí tâm cầu xin Phật, Bồ          Tát phò hộ, hy vọng tử thai trong bụng con dâu sanh ra được cách tự          nhiên, không phải đau đớn, phiền phức vì mổ xẻ, lúc đó mặt trời cũng đã          lặn rồi, Phổ Ái Cô liền giữ con dâu ở lại ngủ với bà không phải về núi.          Đang ngủ nửa đêm con dâu bà kêu mẹ chồng nói: “Thai nhi trong bụng động          đậy lại rồi”. Mẹ chồng cô ta đáp lại cô ta rằng: “Chắc là Phật, Bồ Tát          phò hộ, tử thai sắp sanh ra đấy”. Đến sáng, thai nhi của người phụ nữ          mang thai này đã động đậy bình thường như trước, sức khỏe cũng khỏe          khoắn nhiều, không còn chút gì khó chịu nữa, liền lại trở về trên núi,          lại trải qua một tuần lễ, người phụ nữ mang thai này sanh ra một bé trai          rất là thuận lợi, mẹ con đều bình an vô sự. Hồng Lâm Trản đến Liên xã          nói ra việc này, thật là một sự linh cảm kỳ dị, rất nhiều người nghe,          chắt lưỡi khen là kỳ lạ mãi không thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 17. TÉ XUỐNG LẦU BỊ THƯƠNG,          QUA NGÀY SAU KHÔNG SAO</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lần thứ hai đến Đài Đông, nơi          khoảng đất trống lớn chùa Hải Sơn liên tiếp giảng năm ngày, khuyên người          niệm Phật sửa ác làm lành, những thiện tín phát tâm cả một vùng miền          Đông đều đến ước hẹn đi kết pháp duyên, mỗi nơi đều ước định ba ngày.          Năm ngày ở Đài Đông viên mãn, liền đến Tân Cảng. Đoàn này do ba vị ở Đài          Đông phát Bồ đề tâm lãnh đạo, đó chính là Hồng Lâm Trản, Trần Ngọc          Phương và một vị lão Bồ Tát khác, thêm vào hai vị: Pháp Viên và Huệ Lâm          ở Đài Trung, tổng cộng là năm người, ngủ lại trong một ngôi chùa kiểu          Nhật thời kỳ Nhật chiếm cứ, địa thế, phong cảnh đều rất tốt, phía sau          hướng ra biển, chiều tối các thuyền đánh cá trở về thắp đèn nhấp nháy          giống như một bức tranh vẽ, cảnh sắc mê người, đến nay nhớ lại vẫn như ở          trước mắt, ba ngày hoằng pháp đều ở trong ngôi chùa này, Phật, Bồ Tát          cũng ban cho một cảm ứng đặc biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự việc là vào buổi sáng ngày          thứ hai, có người đến chùa nói: “Có một bà tối qua đến nghe Phật pháp về          nhà, leo lên trên lầu liền bị té xuống, khắp mình đau nhức khó chịu, kêu          la cả đêm, không thể cử động, chỗ nào bị thương vô phương chẩn đoán, xin          nhờ các vị tiêu trừ tai ách cho bà”. Pháp Viên nghe nói như tiếng sét          giữa trời nắng, không biết làm sao, đành phải cùng với vị sư đương gia ở          chùa và Huệ Lâm, ba người đến nhà bà ta, lên lầu liền nhìn thấy bà lão          khoảng bảy mươi tuổi này đang nằm rên rỉ trên giường, rất là tội nghiệp,          Pháp Viên liền quỳ xuống trước tượng Phật của họ thờ một cách đơn giản,          dùng tâm chí thành khẩn thiết hướng lên Phật, Bồ Tát cầu nguyện rằng:          “Vị lão tín nữ này là người tối hôm qua đi nghe pháp về nhà té xuống lầu          bị thương. Nếu như không phải đến nghe Phật pháp thì đối với chúng tôi          không can hệ gì, do vì chúng tôi thành tâm thành ý đến đây khuyên người          niệm Phật, sửa ác làm lành khiến cho người thoát khổ được vui; không may          xảy ra tai nạn ngoài ý muốn này, khiến cho tâm chúng tôi không yên, bạch          Đức Phật A Di Đà và Quán Thế Âm Bồ Tát, các ngài cũng phải chịu một phần          trách nhiệm, nhanh chóng biến hóa cứu giúp cho bà già này tức thời sức          khỏe được hồi phục mạnh khỏe, bình an vô sự. Nếu không thì bà lão này          nếu như bị chết thì khó tránh khỏi người ta chê cười Phật pháp không          linh!”. Sau khi khấn thầm như thế liền tụng một phẩm Phổ Môn, niệm Thánh          hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia trì một ly nước chú đại bi, tự tay đưa          cho bà ta uống, cũng dạy cho bà ta niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.          Thật là Phật pháp vô biên không thể nghĩ bàn, đến trưa ngày hôm sau, sức          khỏe của bà lão này đã an nhiên vô sự, tinh thần khoan khoái có con dẫn          đi, trong tay cầm một cây gậy chống, đi bộ đến chùa lạy Phật và hướng về          đại chúng nói lời cám ơn. Đây không phải Phật, Bồ Tát gia bị, làm sao          được hồi phục dễ dàng như thế! Đến bây giờ nhớ lại vẫn còn cảm thấy mắc          cười, lúc đó trong lòng của Pháp Viên hoảng loạn như đang có tang, đau          khổ không chịu nổi, vì là sợ hai chữ “Phật giáo” bị người hủy báng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> 18. BỒ TÁT GIA BỊ KHAI MỞ TRÍ          TUỆ CHO TÔI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giảng ở Tân Cảng ba ngày          xong, một đoàn năm người lại đi đến Quan San giảng ba ngày. Cuối cùng          lại đi chùa Hoa Sơn ở Ngọc Lý, chùa này là một chùa Tịnh độ tông vào          thời Nhật chiếm cứ, dưới sự sắp đặt của vị Đại hộ pháp và chấp sự chùa          này, mỗi tối khai giảng ở miếu Đế Quân, nơi trung tâm của phố xá rất là          náo nhiệt, thính chúng rất dễ tụ tập. Giảng đến ngày thứ hai, Phật, Bồ          Tát lại hiển kỳ tích. Trưa hôm đó bỗng nhiên có một vị cư sĩ nam ở tỉnh          khác đợi tôi ở phòng khách, nói là muốn đàm luận Phật pháp, trao đổi ý          kiến. Vị cư sĩ đó trước tự giới thiệu tên họ và nói là quy y với một vị          đại pháp sư nào đó ở Đài Bắc, hiện nay thì chỉ chuyên nghiên cứu Thiền          tông. Nghe ông ta nói như nước chảy suốt hai mươi phút, thì đã biết ý          định đến đây của ông ta, không phải đơn giản có thể đối phó được!</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đó trong tâm tôi khấn          thầm đức Quán Thế Âm Bồ Tát gia bị khai mở trí tuệ cho tôi để có thể ứng          phó theo ý muốn, đối đáp trôi chảy, nếu không thì hôm nay bị xui xẻo          rồi! Vị đại đức đó thấy tôi dùng tiếng quốc ngữ lựng khựng, hỏi đâu đáp          đó, gương mặt của ông ta hơi khẩn trương hỏi một câu: “Tối qua nghe bà          giảng Tịnh độ tông, sau khi chết thần thức vãng sanh về Tây phương. Thần          thức nó ra làm sao, lấy ra đây cho tôi xem!”. Tôi liền trả lời ông ta:          “Câu ông vừa mới nóùi, nó ra làm sao, lấy ra đây cho tôi xem coi!”. Lúc          đó trong nhà khách một bầu không khí yên tĩnh, bốn mắt nhìn nhau lặng          yên không nói, tôi lại trả lời ông ta một câu: “Nói cho rõ một chút, ông          ban đêm nằm mộng cái đó là thần thức”. Ông ta khựng lại một chút, rồi          quay đầu mà đi. Tôi sợ ông ta xấu hổ thành giận, lại tìm đến quấy rầy,          bèn nói với vị trụ trì rằng: “Vị đại đức kia nếu lại đến tìm tôi thì sư          nói “bây giờ đang chuẩn bị giảng, xin lỗi!”, là được rồi”. Vị sư trụ trì          nói với tôi rằng: “Cái người đó rất là quái gở, có vị đại đức hay cư sĩ          nào đến giảng Phật pháp, hoặc giảng những sách thiện, ông ta đều đến vấn          nạn mấy câu, khiến người ta không thoát ra được, có người không cách gì          ứng phó liền bỏ đi”.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật là ngoài dự liệu, ngày          hôm sau, ông ta đã cùng mười mấy người bạn nam ngồi hàng phía trước nghe          giảng một cách rất thành tâm thành ý. Sáng ngày hôm sau còn đến nói:          “Thỉnh cư sĩ giảng thêm vài ngày nữa, ngày hôm kia tôi rất là bội phục          trí huệ của bà, cho nên đi tuyên truyền, khuyên được mười mấy người bạn          đến nghe giảng, tối nay sẽ càng tăng thêm số thính chúng”. Đến nay nhớ          lại tình hình lúc đó vẫn còn run, nếu không phải Phật, Bồ Tát thầm gia          bị cho, thì một Pháp Viên([1]) ngu          ngốc từ nào, làm sao có được tài năng đối đáp cùng vị đại đức tông môn          đó?!</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 19. CHÍ TÂM NIỆM PHẬT, KHẮC          PHỤC ĐƯỢC TAI NẠN GIÓ LỬA</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cư sĩ Trần Ngọc Phương ở          đường Bảo Tang phố Đại Đồng thị trấn Đài Đông. Cô ta trước kia khi chưa          nghe Phật pháp là một chuyên gia trang phục, là người thông minh, vốn          đầy đủ trí huệ, sau khi nghe được pháp môn Tịnh độ liền giác ngộ đời          người vô thường, vạn pháp đều không, liền bỏ nghề may đồ cưới cho người,          đến chợ mua hai xâu trân châu, về nhà xỏ lại làm thành một xâu chuỗi,          sớm tối bắt đầu khóa tụng, ngày ngày niệm Phật không ngừng. Đây là về          mặt tự lợi, đồng thời phát tâm Bồ đề mong muốn đem lợi ích đến cho người          khác. Lúc bấy giờ thiện tín ở Đài Đông đều là hàng sơ cơ học Phật, rất          ít người niệm Phật, cư sĩ Ngọc Phương từ cục bưu chính chuyển 500 đồng          tiền Đài Loan mới đến thư cục Thụy Thành mua năm mươi xâu chuỗi, về sau          lấy chuỗi đến nhà những bạn thân dạy họ niệm Phật và cho họ những xâu          chuỗi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một hôm cư sĩ Ngọc Phương          tay cầm chuỗi đến xưởng nước tương Nhựt Đông khuyên người niệm Phật,          người chủ của xưởng tên Hà Tằng Thanh, Hà phu nhân tên là Quai, lúc đó          nhà của ông ta ở đường Nhân Ái (tên cũ là đường Thảo Lịch). Đài Đông 14          năm trước không giống như bây giờ: nhà lầu xi măng cốt thép mọc đầy. Lúc          bấy giờ phần lớn nhà vẫn còn làm bằng ván, cho nên xưởng nước tương Nhựt          Đông cũng thế, cũng làm bằng cây ván và lợp lá. Có một hôm cư sĩ Ngọc          Phương tay cầm chuỗi lại đến nhà họ Hà dạy A Quai niệm A Di Đà Phật,          đang lúc nói chỗ hay của niệm A Di Đà Phật, bỗng nhiên nghe tiếng người          ầm ĩ huyên náo ngoài đường, tiếng còi hơi báo động vang lên rất khẩn          trương, có người la lớn: “Xưởng nước tương Nhựt Đông bị cháy”. Ngọc          Phương và A Quai quay đầu nhìn ra ngoài, xe cứu hỏa màu đỏ của cục Cảnh          sát đã đậu ngoài cổng, lại quay đầu nhìn ra phía sau, thì ra lửa phát          lên nhà kế bên phía bên phải, đã lan đến công xưởng phía sau của mình,          đầy nhà khói bay mù mịt, hôm đó đang là ngày công xưởng được nghỉ, người          nhà và công nhân đều đã đi chơi bên ngoài, chỉ có mỗi mình Hà phu nhân A          Quai ở nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc bấy giờ cư sĩ Ngọc          Phương và A Quai vừa thấy thế của lửa đã tràn vào nhà, đang lúc nguy          hiểm tột cùng đó, liền quỳ xuống đất chắp tay lại chí tâm niệm: “Nam mô          Ai Di Đà Phật, Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát”.          Niệm được chưa tới năm phút, thật là “Năng phục tai phong hỏa. Phổ minh          chiếu thế gian” (tức chỉ Quán Thế Âm Bồ Tát ), liền tức thời nổi lên một          trận gió Nam, thổi thế lửa đi thẳng hướng về phía sau, năm ngôi nhà lá          nhỏ phía sau lập tức bị đốt thành tro, may mắn là công xưởng nước tương          và cửa hàng của A Quai đều không việc gì, chỉ có lúc nhà kế bên mới phát          hỏa thiêu cháy mười mấy tấm ván vách chung với nhà kế bên thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói đến đây, có lẽ có người          sẽ hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát tại sao chỉ cứu người niệm danh hiệu của          Ngài, mà năm ngôi nhà lá không biết niệm Phật kia thì phó mặc cho lửa,          không ra tay cứu? Nên biết rằng lúc đó con đường Nhân Ái của các nhà lân          cận là một con đường nhỏ rất dài, nếu như nhà của A Quai bị lửa cháy,          thế của lửa hướng về phía Bắc thì sẽ lan ra hết con đường này và khi đã          phát lửa rồi thì không thể thu dọn gì kịp, như thế tổn thất không sao          tính cho xuể, đồng thời năm ngôi nhà lá nhỏ kia cũng không chắc được may          mắn thoát khỏi. Thật là Phật, Bồ Tát phò hộ việc lớn hóa thành việc nhỏ,          việc nhỏ hóa thành không, cũng là may mắn gặp được thiện tri thức sư tỷ          Ngọc Phương từ bi, phước đức che chở.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> 20. ĐẾN LÚC VIỆC XẢY RA MỚI          ÔM CHÂN PHẬT CŨNG CÓ HIỆU QUẢ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cư sĩ Trần Phi Lâm công chức          hãng đường Đài Đông là một vị Phật tử thuần thành, nhưng vợ của ông ta          lúc đầu chống đối kịch liệt ông chồng tin Phật, niệm Phật, tuy nhiên          Trần cư sĩ cũng không thối tâm chút nào, vẫn cứ tinh tấn, và một mặt với          tâm từ bi cố sức khuyên vợ rằng: “Chúng ta có miệng phải nên niệm Phật A          Di Đà tức là cái vốn cho sau này được vãng sanh Tây phương, nhưng trước          khi chưa được sanh Tây phương, cũng có thể gặp dữ hóa lành, tiêu tai          giải nạn, đối với bản thân có sự lợi ích không gì bằng”. Bà Trần được          ông chồng hàng ngày cảm hóa như thế, lại cứ như đàn khảy tai trâu, hoàn          toàn chẳng nghe. Tuy thế bà Trần này lại là một bà chủ giỏi khéo coi sóc          việc nhà vừa cần cù vừa tiết kiệm, có lúc còn lên núi kiếm củi, gánh một          gánh củi lớn xuống núi, rồi ngồi một chiếc xe lửa nhỏ cuối cùng về nhà.          Nhưng có một lần bà Trần gánh củi xuống núi, không ngờ mặt trời đã lặn,          chiếc xe cuối cùng đã chạy rồi, chiếc xe lửa nhỏ trên núi là xe kéo mía,          không phải là xe chuyên chở khách, cho nên sau khi chuyến xe cuối cùng          chạy đi rồi, thì ai tự về nhà nấy, không có ai ở lại trạm xe cả. Trời đã          tối, bà Trần trên vai gánh một gánh củi lớn, tự mình khích lệ sức mạnh,          quyết định đi bộ về nhà, một thân một mình thuận theo con đường sắt, đi          giữa đường ray tiến thẳng về phía trước. Lúc đi được nửa đường đột nhiên          thấy giữa đường ray phía trước một bóng đen của một đại hán đang đứng,          lúc ấy bà Trần càng đi thì càng gần, nhìn càng rõ, toàn thân lông tóc          dựng đứng, sợ đến nỗi quăng gánh củi trên vai do vì bà đã hết sức gánh          tiếp. Bà Trần đang lúc đêm đen có một mình nhìn thấy bóng đen kia, trong          khoảnh khắc đó, bỗng nhiên nhớ lại việc mấy năm trời được chồng huân tập          cho một câu chú vương từ nào không chịu đón nhận, nhứt là không hề muốn          niệm, đang lúc vô cùng nguy cấp này, việc đến mới ôm chân Phật, bà đứng          ngay nơi đó, không kềm được chắp tay lại, to tiếng niệm “Nam mô A Di Đà          Phật”. Niệm được vài phút, cái bóng đen của đại hán đó, dường như đã có          cái dạng bước sang một bên rồi và dần dần mất tiêu luôn. Bà Trần nhìn          thấy thật rõ ràng, liền vội vã đi nhanh lên, cả đến gánh củi cũng không          màng đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên          đường chạy về nhà của bà Trần, trong miệng vẫn không ngớt niệm “Nam mô A          Di Đà Phật”. Nhưng đi được một hồi bỗng nhiên đôi chân không thể đi được          nữa, lúc đó trong bụng bà Trần cảm thấy rất lỳ lạ. Tại sao mà đôi chân          bỗng nhiên không đi được nữa, liền cố gắng tự phấn chấn tinh thần lên,          khom lưng xuống tay mò xuống đất. Bà Trần dùng tay mò dưới đất mới hay          lại qua một lần đại nạn nữa, hóa ra chỉ cần tiếp tục đi về phía trước          một bước nữa thì là rớt xuống một khe suối lớn rồi! Lắng tai nghe kỹ          tiếng nước chảy trong khe rất là mạnh. Bà Trần lúc đó càng cảm tạ A Di          Đà Phật đã từ bi cứu giúp, nếu như không phải hai chân bất động, đi tiếp          một bước nữa thì rơi vào trong khe, bị nước cuốn trôi rồi, cả người nhà          cũng không ai hay biết, sẽ mãi mãi ngậm hờn nơi chín suối. Lúc bấy giờ ở          khe suối đó dùng miếng ván nhỏ làm cầu, bà Trần liền dùng cả hai tay hai          chân như móc câu mà bò qua, xong mới thở ra một hơi nhẹ nhõm, thẳng lưng          lên tiếp tục chạy về phía trước, liên tục ba lần, hễ đến bên bờ khe, thì          chân tự động dừng bước, thật là không thể nghĩ bàn! Sai một bước không          phải là chết đuối mà là té chết (bể đầu gãy xương&#8230;) do vì ban đêm nhìn          không thấy rõ, nên bà Trần về đến nhà là đã 12 giờ khuya!</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày hôm sau bà Trần trở lại          gánh gánh củi quăng mất hồi tối, bà đã hỏi người ở trạm xe, bóng đen hồi          tối qua nhìn thấy rốt cuộc là cái gì? Người ta liền nói với bà ta: Hồi          trước có một người bị tai nạn chết ngay chỗ đó, có lẽ âm hồn không tan,          nên thường hiện ra nơi đó. Câu chuyện trên đây là do Pháp Viên và cô          Hoàng Chiêu Anh đến dự khánh thành liên xã Đài Đông và tham gia giảng          diễn năm ngày, nghe được từ chính miệng bà Trần kể lại vào mồng 1 tháng          giêng năm Dân quốc thứ 48.</p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/su-tich-quan-the-am-bo-tat/" title="Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát">Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát</a> (0)<br /><small>Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm ha...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/tinh-tong-nhap-mon/" title="Tịnh Tông Nhập Môn">Tịnh Tông Nhập Môn</a> (0)<br /><small>Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/tuyen-tap-cac-tac-pham-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/" title="Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Thiền sư Thích Nhất Hạnh">Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Thiền sư Thích Nhất Hạnh</a> (1)<br /><small>Thích Nhất Hạnh là một thiền  sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nh...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p1/" title="Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1">Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe-P1</a> (0)<br /><small>Lời người dịch 
Pháp môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô L...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/than-chu-dai-bi-vien-ngoc-cua-nguoi-cung-tu/" title="THẦN CHÚ ĐẠI BI: Viên Ngọc của Người Cùng Tử">THẦN CHÚ ĐẠI BI: Viên Ngọc của Người Cùng Tử</a> (1)<br /><small>Cửa Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, một người học Phật dù cố gắng hành tr...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-mat-thay-tai-nghe-p2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vũ Trụ và Thượng Đế</title>
		<link>http://www.hugle.net/vu%cc%83-tru%cc%a3-va-thuo%cc%a3ng-de%cc%81/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/vu%cc%83-tru%cc%a3-va-thuo%cc%a3ng-de%cc%81/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 05:31:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thông Thiên Học]]></category>
		<category><![CDATA[Annie Besant]]></category>
		<category><![CDATA[Bạch Yên]]></category>
		<category><![CDATA[C. W. LEADBEATER]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=386</guid>
		<description><![CDATA[Trong cơn nhàn rỗi, ai là người suy nghĩ lại không tự hỏi: Tôi là ai đây? Tôi từ đâu đến? Tôi sanh ra ở cõi Trần làm chi? Sau khi thác rồi, tôi còn hay mất? Nếu còn, tôi phải đầu thai lại một lần nữa phải không? Tại sao dân chúng trên Ðịa Cầu không tiến hóa đồng bực với nhau?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p></p><p style="text-align: center;"><strong> Những chỗ khó khăn trong<br />
Khoa Minh Triết Thiêng Liêng gọi là 	thông thiên học</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong> TẬP 1</strong></p>
<h1 style="text-align: center;"><strong> <span style="color: #ff0000;">Vũ Trụ  	 	và Thượng Đế</span></strong></h1>
<p style="text-align: center;"><strong> Bạch Liên</strong></p>
<p><a href="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/01/con-nguoi-va-vu-tru.jpg" rel="lightbox[386]"><img class="aligncenter size-full wp-image-387" title="con nguoi va vu tru" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/01/con-nguoi-va-vu-tru.jpg" alt="" width="400" height="300" /></a></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> vài lời nói đầu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong cơn nhàn rỗi, ai là người suy nghĩ lại không tự hỏi: Tôi là ai  	đây? Tôi từ đâu đến? Tôi sanh ra ở cõi Trần làm chi? Sau khi thác  	rồi, tôi còn hay mất? Nếu còn, tôi phải đầu thai lại một lần nữa  	phải không? Tại sao dân chúng trên Ðịa Cầu không tiến hóa đồng bực  	với nhau?</p>
<p style="text-align: justify;">Những vấn đề nầy xưa nay đã làm tốn hao không biết bao nhiêu giấy  	mực rồi, mà đâu cũng hườn đó, chớ không đi đến kết quả hợp lý nào  	cả, bởi vì con người còn mắc trong vòng Luân hồi, Nghiệp chướng,  	sanh rồi tử, tử rồi sanh, không biết được ngày mai thế nào thì làm  	sao giải quyết được những sự bí mật của Tạo Công.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế nên, hồi đời cổ Ai Cập, trên ngạch cửa Thánh Ðiện thờ Nữ Thần  	Isis có khắc câu này: &#8220;TA LÀ TẤT CẢ NHỮNG GÌ ĐÃ CÓ TỪ THỜI DĨ VÃNG, ĐƯƠNG  	Ở THỜI HIỆN TẠI VÀ SẼ CÓ Ở THỜI TƯƠNG LAI. CHƯA CÓ MỘT NGƯỜI PHÀM PHU TỤC TỬ  	NÀO VÉN ĐƯỢC BỨC MÀN CỦA TA”.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể tin cậy vào khoa học không? Không thể được; bởi vì  	khoa học còn đương tìm học những gì mà Ðức Thượng Ðế đã tạo ra  	cả tỷ năm trước rồi. Những sự phát minh đời nay thay thế những sự  	phát minh thời xưa, những giả thuyết mới sửa đổi những giả thuyết  	cũ . . . rồi cứ tiếp tục như thế, từ đời này qua đời kia. Khoa học  	hiện kim tiến rất xa về phương diện vật chất, nhưng chưa công khai  	nhìn nhận có Tinh Thần là phần hồn. Khoa học chưa nói tiếng chót.  	E cho  2.000 năm sau, khoa học  	thuở đó sẽ cho khoa học của thế kỷ 20 này còn vụng về ấu trĩ,  	không khác nào nhà Bác học đời nay đã cười những sự hiểu biết  	của ông Paracelse hồi thế kỷ 16 vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cũng không thể nhờ các Tôn giáo giải quyết bởi vì ngày  	nay hầu hết các tín đồ đều không cố gắng ăn ở như lời của các  	vị Giáo Chủ đã dạy bảo thuở xưa.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi về những kiếp tái sanh và nghiệp quả thì tôn giáo đưa ra  	thuyết Âm Ty Ðịa Ngục, Lục Ðạo Luân Hồi và dẫn chứng những chuyện 	<em>Hồi Dương Nhơn Quả</em>, 	<em>Từ Ân Ngọc Lịch</em>, 	<em>Mục Liên Thanh Ðề</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về việc quăng hồn người vào hỏa ngục đời đời kiếp kiếp, ta phải  	tự hỏi: Con người làm tội gì? nặng nề đến đâu mà bị hành phạt  	đến thế? Không ai dạy con người phải làm những điều gì và tránh  	những điều gì. Tới chừng con người lầm lỗi thì bị hành phạt. Vậy  	thì sự công bình ở đâu? Nếu quả thật có hỏa ngục thì không còn ai  	tin tưởng về lòng từ bi bác ái vô tận vô biên của Thượng Ðế nữa  	vì Ngài chỉ chờ con người phạm tội đặng hành phạt một cách dữ  	tợn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thật chẳng bao giờ có  	điều đó. Người ta bịa đặt ra những điều hành phạt gớm ghiếc vì  	những quyền lợi riêng tư của cá nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">Về thuyết Âm Ty Ðịa Ngục,  	Lục Ðạo Luân Hồi, tôi tin rằng trong các hàng Phật tử, bạn nào có  	đọc <em>Túc Sanh Truyện</em> rồi suy  	nghĩ kỹ lưỡng thì không còn tin có Thập Ðiện Diêm Vương nữa. 	<em>Túc Sanh Truyện</em> thuật 550  	kiếp của Ðức Phật Thích Ca:</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, Ngài đầu thai  	làm thú ở dưới nước như Vua cá; kế đó Ngài đầu thai làm thú ở  	trên bờ như Nai, Voi, Khỉ. Thoát kiếp thú, Ngài đầu thai làm người.  	Ngài cũng phạm tội lỗi như chúng ta bây giờ, nhưng không hề bị  	hành phạt dưới Âm phủ. Cuối cùng thì Ngài tu hành rồi lần lần lên  	tới bực toàn giác là Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa trong 	<em>Mahâvagga 6</em> (<em>Phạm  	Võng Kinh 6</em>) có câu này: &#8220;ÐỨC PHẬT NÓI VỚI CÁC TỲ KHEO NHƯ VẦY: LINH  	HỒN ĐI ĐẦU THAI TỪ LOÀI NẦY QUA LOÀI KHÁC XUYÊN QUA TẤT CẢ NHỮNG HÌNH DẠNG:  	ĐÁ CÁT, CÂY CỎ, CẦM THÚ VÀ NHỮNG NGƯỜI TÁNH TÌNH KHÁC NHAU CHO ĐẾN KHI LÊN  	TỚI BỰC TOÀN GIÁC LÀ PHẬT.&#8221; (<em>Tin  	lành của Ðức Phật</em>, trương 127. 	<em>Evangile du Bouddha par Carus</em> page 127).</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy thì các bạn Phật tử cho những lời nói trong 	<em>Túc Sanh Truyện</em> và 	<em>Phạm Võng Kinh</em> đúng với sự  	thật hay là tin những quyển <em>Hồi  	Dương Nhơn Quả</em>, <em>Từ Ân Ngọc  	Lịch</em>, <em>Mục Liên Thanh Ðề</em>,  	trong đó chỉ thấy Diêm Vương phạt toàn là những người Tàu chớ không  	có người Nhựt, người Anh, người Ba Tư hay là người Việt Nam nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai chỗ trái ngược nhau, nếu tin cái này thì ắt phải bỏ cái kia.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay, một bằng chứng cụ thể đánh đổ thuyết Âm Ty Ðịa Ngục mà  	không còn ai cãi lẽ được nữa là Hồn Ma hiện về mà người ta chụp  	hình được. Hồn Ma cũng nói chuyện với người sống như lúc họ còn  	sanh tiền. Hỏi họ: &#8220;Có hỏa ngục hay không?&#8221; thì họ trả lời: &#8220;Chúng  	tôi không thấy.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Ðiều này rất dễ hiểu: Nếu có Hồn Ma hiện về thì không có Âm  	phủ, nhược bằng có Âm phủ thì không có Hồn Ma hiện về; bởi vì  	hồi sanh tiền, ai ai lại không lầm lỗi. Nếu lầm lỗi bị bắt xuống  	Âm phủ hành tội, thì làm sao trở về Dương thế đặng hiện ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi có đọc <em>Tạp chí</em> <em>Thần Linh Học</em> (<em>Revue  	Spirite</em>) và nhiều quyển sách Thần Linh Học, trong số đó có:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  	Chuyện <em>Cô Katie King và nhà  	Bác học William Crookes</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  	<em>Lá thư của người chết</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">3 – 	<em> Những  	Hồn Ma hiện về</em> (<em>Formes  	matérialisées</em>) của Bác sĩ Raoul Montandon và nhứt là quyển 	<em>Những sự kỳ diệu của Thần Linh  	Học</em> (<em>Les Merveilles du  	Spiritisme</em>), tác giả là Bác sĩ Jean Philippe Crouset mới xuất  	bản năm 1971, có 75 hình.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi có kể mấy chuyện ấy ra để chứng minh rằng: Không có Âm phủ hay  	Diêm Vương Thập Ðiện chi cả. Chỉ có thế thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, các Tôn giáo lớn giống như một cái xác không hồn vì đã  	mất khoa Mật hay là Bí Truyền, nên không giải thích được những  	điều thuộc về Siêu Hình Học, vì thế bị Khoa học khinh khi.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuở xưa các Tôn giáo lớn đều có hai khoa: Khoa Mật hay là Bí  	Truyền (Esotérisme) và Khoa Hiển hay là Công Truyền (Exotérisme).</p>
<p style="text-align: justify;">Khoa Mật dạy về sự sanh hóa Vũ Trụ Càn Khôn, những Luật chi phối  	sự tiến hóa của Vạn vật và những phương pháp biến đổi con người  	thành một vị Siêu Phàm trong vài chục kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn Khoa Hiển là Công Truyền dạy: Cang thường, luân lý, sự thờ  	phượng cúng tế. Vì không hiểu Luật Trời, cho nên những tín ngưỡng  	Tôn giáo chứa đầy những sự mê tín dị đoan, làm cho Khoa học không  	còn tin cậy Tôn giáo nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, ở khắp mọi nơi, giữa chốn phồn hoa đô hội, ở thời đại  	nào luôn luôn cũng có một nhóm Huynh đệ học khoa Huyền bí học một  	cách kín đáo. Vì thế từ đời này qua đời kia, mối Ðạo không hề  	dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trăm năm trước đây, Thiên Ðình thấy Nhơn loại đã tiến gần đến  	mức hiểu được đôi chút những sự bí mật của Tạo Công cho nên mới  	sai một vị Cao đồ của Chơn Sư là Ðức Bà Blavatsky đem Khoa Hạ Bí  	Pháp ra truyền bá khắp nhơn gian đặng thức tỉnh quần chúng đừng  	quá say mê khoa học vật chất mà gây ra muôn vàn tội lỗi. Bà  	Blavatsky và Ðại Tá Olcott lập ra Hội Thông Thiên Học ở New York  	ngày 17 tháng 11 năm 1875, sau dời về Adyar (Madras) rồi ở tại đó  	cho tới ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Société Théosophique dịch là Hội Minh Triết Thiêng Liêng đúng hơn  	là Hội Thông Thiên Học, song nửa thế kỷ nay người ta quen với danh  	từ này rồi, vậy thì cứ để như thế, không hại chi cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông Thiên Học dạy về Vũ Trụ và Nhơn sanh rất rành rẽ <sup>[<a href="http://thongthienhoc.com/bai%20vo%20vutruvathuongde.htm#_ftn1">[1]</a>]</sup> và đúng với sự thật bởi vì những Ðấng Cao Cả đem Khoa Huyền bí  	học dạy lần đầu tiên tại Hệ thống Ðịa Cầu là những vị Thiên Tôn  	đã dự phần vào sự thành lập Thái Dương Hệ này. Thế nên không bao  	giờ có sự lầm lạc được. Giáo lý Thông Thiên Học vốn do các vị  	Tiên Thánh truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ kia cho những ai  	có đủ những điều kiện để học hỏi nó, chớ không tiết lộ ra ngoài.  	Hiện giờ những sách Thông Thiên Học nguyên bản vốn viết bằng Anh  	văn, và có dịch ra nhiều thứ tiếng như: Pháp, Ý, Ðức, Tây Ban Nha .  	. .</p>
<p style="text-align: justify;">Quí bạn nào giỏi về ngoại ngữ nên đọc những sách Thông Thiên Học  	Anh văn hay Pháp văn; có nhiều quyển viết bằng Anh văn chưa dịch ra  	Pháp văn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, khắp hoàn cầu người ta đọc sách Thông Thiên Học rất  	nhiều mặc dầu chưa làm Hội viên Hội Thông Thiên Học. Người ta thích  	nó hơn các giáo lý khác vì nó đưa ra những lý lẽ mà khoa học có  	thể chứng minh được và độc giả cũng có thể thí nghiệm được và  	thấy hiệu quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, Hiểu là một việc, còn Hành là một việc khác nữa. Học  	Ðạo mà không Hành Ðạo thì không bao giờ Ðắc Ðạo. Thiết tưởng cũng  	nên biết rằng: Chúng ta còn đương học gián tiếp, nghĩa là hiểu  	bằng lý trí chớ không thấy được những điều mà chúng ta đương học  	hỏi. Nên khiêm tốn một chút. Hãy nhìn lên Trời mới thấy Vũ Trụ vô  	tận vô biên.</p>
<p style="text-align: justify;">Muốn học được trực tiếp, tức là thấy được những cõi vô hình và  	cách phối hợp các nguyên tử đặng làm ra những cơ quan khác nhau  	trong thân thể con người và vạn vật, hay là nhiều việc khác nữa  	thì phải dày công luyện tập, trường trai, khổ hạnh, khắc kỷ, tự  	chủ, lo giúp đời tùy phương tiện, và sống một đời cao thượng thì  	mới hội đủ những điều kiện đặng học tập phương pháp mở Huệ Nhãn  	là một quan năng cao siêu hơn con mắt thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Có thể nói rằng Huệ Nhãn không khác nào một cái kính hiển vi có  	sức phóng đại mấy chục ngàn triệu lần hơn trước. Vì vậy nó mới  	có thể giúp con người thấy được những cõi Trời ở chung quanh  	mình. Mấy cõi này làm bằng vật chất tế nhị và thanh bai hơn chất  	Hồng Trần không biết bao nhiêu lần. Mở Huệ Nhãn tức là dùng được  	kính hiển vi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, khắp Hoàn Cầu có nhiều người mở được Thần Nhãn, thấy  	được cõi Trung Giới và ý muốn của kẻ khác, thì câu chuyện Thần  	Nhãn không còn là điều mơ hồ như trước kia người ta tưởng vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi soạn những tập nhỏ này cốt ý trước nhất để giải thích vài  	điểm và vài danh từ chuyên môn thuộc về Huyền bí học, chẳng hạn  	như: Monade, Ego, Essence Élémentale, Essence Monadique, Souffle du Logos,  	Tanmatra, Tattva, Asura v.v. . . .; kế đó là muốn cho quí bạn độc  	giả có một quan niệm đúng đắn về Thông Thiên Học, tôi vẫn biết  	giáo lý Thông Thiên Học hữu ích rất nhiều cho sanh viên Huyền bí  	học hơn là các bạn còn bôn ba trên con đường đời dài thăm thẳm,  	dường như chạy đến tận chơn Trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, điều cần thiết là mỗi người đều nên biết rằng: Thật con  	người là Chơn Thần, một Ðiểm Linh Quang của Ðức Thượng Ðế. Con  	người sanh ra ở cõi Trần đặng học hỏi Cơ Tiến Hóa hầu ngày sau, khi  	ngày giờ đã điểm thì thành ra một vị Siêu Phàm. Ấy là mục đích  	đã định sẵn cho con người trong Thái Dương Hệ. Vì mấy lẽ nầy mà  	Ðức Phật đã nói: &#8220;TA ĐÃ THÀNH PHẬT, CÒN CÁC NGƯƠI SẼ THÀNH PHẬT”.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn Ðức Jésus cũng lập lại câu này: &#8220;TA NÓI: CÁC NGƯƠI LÀ NHỮNG VỊ  	THƯỢNG ĐẾ” (Jean X –  34 – )</p>
<p style="text-align: justify;">Và trên ngạch cửa của Thánh Ðiện Delphes (Hy Lạp) có khắc câu châm  	ngôn nầy: &#8220;NGƯƠI HÃY BIẾT NGƯƠI RỒI NGƯƠI SẼ BIẾT VŨ TRỤ VÀ CÁC VỊ THƯỢNG  	ĐẾ&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu xin những sách Thông Thiên Học giúp ích được quí bạn phần nào  	trên con đường tìm Chơn lý và tu tâm luyện tánh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> Lành thay! Lành thay!</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Bạch Liên</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Phạm ngọc Ða</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> 53 Nguyễn Ðình Chiểu</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> –   	châu đốc –</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> chương thứ nhất</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> những thái dương hệ trên không gian</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ban đêm ta nhìn lên không gian thấy hằng hà sa số những đốm sáng:  	người ta gọi là những Ngôi Sao hay là Ngôi Tinh Tú. Ðối với con mắt  	phàm của ta, ta không phân biệt được chúng nó ra sao, cái nào lớn,  	cái nào nhỏ, và cái này cách xa cái kia bao nhiêu dặm. Ta chỉ  	biết Khoa học nói rằng: Sao nào nháy là Mặt Trời, còn sao nào  	không nháy là Hành Tinh hay là Trái Ðất.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng theo Huyền bí học thì tất cả những Ngôi Tinh Tú trên không  	gian đều sắp đặt thành những hệ thống gọi là Thái Dương Hệ. Mỗi  	Thái Dương Hệ gồm một Ngôi Mặt Trời ở chính giữa và những Dãy  	Hành Tinh xây chung quanh. Mỗi Dãy Hành Tinh gồm ít nhất là bảy Bầu  	Hành Tinh. Trên mỗi Hành Tinh đều có những nhơn vật sanh sanh hóa hóa  	và tiến hóa như ở tại cõi Trần của chúng ta vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chắc chắn là hình thù của những loài người trên mấy Dãy Hành Tinh  	đó không giống nhau và ngôn ngữ cũng bất đồng, sự tiến hóa cũng  	không đồng bực với nhau. Mấy loài vật cũng vậy. Ðiều này không khác  	nào những việc mà người ta thấy hiện giờ ở cõi Trần này.</p>
<p style="text-align: justify;">Có những Thái Dương Hệ sanh trước, có những Thái Dương Hệ sanh sau,  	thế nên có những Thái Dương Hệ lớn và cũng có Thái Dương Hệ nhỏ. 	<strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> những ngôi mặt trời lớn hơn  ngôi mặt trời của chúng ta</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta nói bề trực kính của Ngôi Mặt Trời soi sáng chúng ta đo  	được lối 1.391.000 cây số, bằng 109 lần bề trực kính của Trái Ðất.</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  Tinh cầu Arcturus (Pl.  	Bouvier) 27 lần lớn hơn bề trực kính của Mặt Trời tức là 37.557.000  	cây số.</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  Tinh cầu Aldébaran (Pl.  	Taureau) 30 lần lớn hơn bề trực kính của Mặt Trời tức là  	41.730.000 cây số.</p>
<p style="text-align: justify;">3 –  Tinh cầu Pégase 140 lần  	lớn hơn bề trực kính của Mặt Trời tức là 54.740.000 cây số, lớn  	hơn khoảng giữa Mặt Trời và Trái Ðất. Mặt Trời cách xa Trái Ðất:  	149.000.000 cây số.</p>
<p style="text-align: justify;">4 –  Tinh cầu Mira Ceti (Pl.  	Baleine) và Tinh cầu Bétegeuse 300 lần lớn hơn tức là 417.300.000 cây  	số.</p>
<p style="text-align: justify;">5 –  Tinh cầu Hercule 400 lần  	lớn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">6 –  Tinh cầu Antarès 407 lần  	lớn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">7 –  Tinh cầu Canopus một triệu lần lớn hơn Ngôi Mặt  	Trời của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện giờ các nhà Thiên văn mới thấy một Ngôi Sao bốn tỷ cây số bề  	ngang và đặt tên là Epsilon. Không biết có phải Ngôi Sao nầy lớn  	nhất trong Vũ Trụ hay là trong tương lai còn khám phá ra được nhiều  	ngôi sao lớn hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một điều có thể nói được là: Sự tiến hóa trên các Thái Dương  	Hệ đó cao hơn sự tiến hóa tại Thái Dương Hệ của chúng ta không  	biết bao nhiêu lần mà nói. Ngoài ra chúng ta không hiểu một mảy may  	gì về sự sống trên các Thái Dương Hệ đó cả.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> bảy cung trong vũ trụ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Huyền bí học thì trong Vũ Trụ, các loài vật từ loài Tinh  	Chất cho tới loài Kim Thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú, Con Người và các  	Tinh Linh hay Ngũ Hành, các hàng Thiên Thần và các loài khác dầu  	hữu hình hay vô hình đều chia ra bảy loại hay bảy nhóm cũng gọi là  	bảy Cung (Rayon) <sup>[<a href="http://thongthienhoc.com/bai%20vo%20vutruvathuongde.htm#_ftn2">[2]</a>]</sup></p>
<p style="text-align: justify;">Bảy cung này là:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  	Cung thứ Nhất là Cung Ý Chí hay Uy Quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  	Cung thứ Nhì là Cung Minh Triết.</p>
<p style="text-align: justify;">3 –  	Cung thứ Ba là Cung Trí Tuệ sanh hóa (Cung Thích Nghi).</p>
<p style="text-align: justify;">4 –  	Cung thứ Tư là Cung Mỹ Lệ – Hòa Thanh.</p>
<p style="text-align: justify;">5 –  	Cung thứ Năm là Cung Hiểu Biết cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">6 –  	Cung thứ Sáu là Cung Sùng Ðạo.</p>
<p style="text-align: justify;">7 –  	Cung thứ Bảy là Cung Pháp Môn –  	Phù Thủy.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi Cung còn chia ra làm bảy chi nữa (Sous Rayons ou sous Types). Có  	tất cả là 49 Chi. Nhưng trong sách thường để 49 Rayons chứ không  	dùng chữ Sous Rayons.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người hay mỗi thú vật đều thuộc về một trong bảy Cung, nghĩa  	là người này thuộc về Cung thứ Nhất, người kia thuộc về Cung thứ  	Nhì, người nọ thuộc về Cung thứ ba . . .</p>
<p style="text-align: justify;">Các loài vật cũng vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Vần đề Cung và Chi rất nhiệm mầu, nên không có tiết lộ ra nhiều.  	Mà thiết tưởng dầu có nói ra cũng không ai hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> bảy nhóm thái dương hệ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cũng như con người và các loài vật, những Thái Dương Hệ trên không  	gian đều chia ra bảy Nhóm hay là bảy Cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi Cung gồm cả triệu Thái Dương Hệ, lớn có nhỏ có. Mỗi Thái  	Dương Hệ đều ở dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Vị Chủ Tể đã  	tạo lập ra nó. Vị Chủ Tể này là Ðức Thái Dương Thượng Ðế.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Thái Dương Hệ đều chịu ảnh hưởng lẫn nhau, nhứt là những Loại  	thuộc về một Cung với nhau. Xin thí dụ như vầy rõ hơn:</p>
<p style="text-align: justify;">Quả Ðịa Cầu của chúng ta là một Bầu Hành Tinh. Nó thuộc về một  	Nhóm Hành Tinh lấy Mặt Trời làm trung tâm, nghĩa là chúng nó xây  	chung quanh Mặt Trời và sự sống của chúng nó do Mặt Trời ban  	xuống.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng thế đó, Thái Dương Hệ của chúng ta thuộc về một nhóm Thái  	Dương Hệ mà cả thảy đồng lấy một ngôi Mặt Trời lớn hơn nữa làm  	trung tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi cứ tiếp tục như thế từ dưới lên trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Xin đem ra đây một bằng chứng:</p>
<p style="text-align: justify;">Trong quyển <em>Vạn vật đều Luân Hồi</em> (<em>La Réincarnation Universelle</em>)  	tác giả là ông Charles de Saint Sevin, nơi trương 21 có nói như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">“Tất cả Thái Dương Hệ của chúng ta đều di chuyển và hướng về Tinh  	cầu Véga với tốc độ là 20 cây số trong một giây đồng hồ tức là  	12.000 cây số trong một giờ” (Le système solaire tout entier se déplace  	vers Véga à 20 Km seconde ou 72.000 Km heure).</p>
<p style="text-align: justify;">Ðây là một điều bất ngờ, xưa kia người ta đinh ninh rằng: Những  	Ðịnh Tinh hay là Mặt Trời thì ở một chỗ, nay người ta lại thấy  	Mặt Trời cũng di chuyển vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng nên biết rằng: Những Thái Dương Hệ đều liên lạc với nhau,  	những Thái Dương Hệ đồng một Cung với nhau đều giúp đỡ lẫn nhau.  	Ðức Leadbeater trong quyển <em>Chơn Sư  	và Thánh Ðạo</em> (<em>Les Maîtres et  	le Sentier</em>), trương 200 có nói như vầy: &#8220;Tôi thấy những Sứ Giả từ  	những Thái Dương Hệ khác qua viếng Ðịa Cầu chúng ta mặc dầu tôi  	không biết mấy vị ấy tới đây có những mục đích gì.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> bảy vị hành tinh Thượng Ðế hư không</strong><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bảy Cung trên không gian vẫn ở dưới quyền điều khiển của bảy Vị Ðại  	La Thiên Ðế gọi là bảy Vị Hành Tinh Thượng Ðế Hư Không (7 Logos  	Planétaires Cosmiques). Mỗi Vị làm Chúa tể một Cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiên Chúa giáo gọi các Ngài là: Bảy Vị Ðại Thiên Thần chầu chực  	trước Ngai của Ðức Chúa Trời (Les 7 Esprits devant le Trône de Dieu).</p>
<p style="text-align: justify;">Các Ngài phụ tá Ðức Thượng Ðế trong việc tạo lập Vũ Trụ Càn  	Khôn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> Ðức Thượng Ðế, chúa tể vũ trụ càn khôn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các vị Thánh Nhơn, các vị Thiêng Liêng Cao Cả và các Thánh kinh  	đều dạy rằng có một sự sống duy nhứt đời đời bất diệt, cội rễ  	của sự sanh tồn của hằng hà sa số những Tinh cầu với các loài  	vật trên không gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta gọi sự sống này với nhiều tên khác nhau, tùy theo ngôn ngữ  	của các giống dân tộc trên Ðịa Cầu hoặc:</p>
<p style="text-align: justify;">1 	 –   	 Ông Trời.</p>
<p style="text-align: justify;">2 	 –   Ðức  	Chúa Trời.</p>
<p style="text-align: justify;">3 	 –   Ðấng  	Tạo Công – Ðấng Hóa Công.</p>
<p style="text-align: justify;">4 	 –   Ðấng  	Tạo Hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">5 	 –   	 Thái Cực Thánh Hoàng.</p>
<p style="text-align: justify;">6 	 –   Dieu.</p>
<p style="text-align: justify;">7 	 –   Logos  	Cosmique.</p>
<p style="text-align: justify;">8 	 –   Brahman  	–  Phạn Vương –  	Isvara.</p>
<p style="text-align: justify;">9 	 –   Allah.</p>
<p style="text-align: justify;">10 –  	Ahura Mazda v.v. . . .</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  Ðấng Vô Thỉ Vô  	Chung.</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  Không sanh mà có.</p>
<p style="text-align: justify;">3 –  Ðộc Nhất Vô Nhị.</p>
<p style="text-align: justify;">4 &#8211;  Nhân Vô Nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">5 –  Căn vô Căn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> những điều của Ðức Phật nói về Thượng Ðế</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong quyển <em>Ánh Sáng Á Châu</em> (<em>La  	Lumière de l&#8217;Asie</em>) có thuật lời Ðức Phật nói về Thượng Ðế như  	sau:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Om! Amitaya! Chớ nên ướm thử dùng lời nói mà đo  	cõi vô biên, hay là nhúng dây tư tưởng vào cõi vô tận. Người hỏi  	cũng lầm mà người trả lời cũng lầm vậy. Ðừng hỏi chi cả.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh sách dạy rằng: Trước khi vạn vật sanh ra chỉ có Phạn Vương  	(Brahma) trầm tư mặc tưởng. Nhưng chớ nên suy gẫm đến Phạn Vương hay  	là lúc sơ khởi. Con mắt phàm không hề thấy được Phạn Vương hay là  	một ánh sáng nào cả. Trí người phàm cũng không thể hiểu được.  	Những màn lần lượt vén lên, cái này rồi đến cái kia. Phải có  	những bức màn và sau những bức màn nầy thì có những bức màn  	khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Ngôi Tinh Tú cứ vận chuyển mà không hỏi han chi cả. Miễn là  	sự sanh, sự tử, sự buồn, sự vui, cái nguyên nhân và cái hậu quả  	còn lại thì đã đủ rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc đời và ngày giờ cứ luân chuyển không ngừng, cũng như dòng nước  	của con sông chảy từ nguồn ra biển, dầu mau, dầu chậm, các lượn  	sóng cũng vẫn là một, mặc dầu coi khác nhau, cứ nối tiếp với nhau,  	cái sau nhồi cái trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Bao nhiêu đây tưởng cũng đủ cho tánh hiếu kỳ của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> ba ngôi Thượng Ðế</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ba Ngôi có ba nhiệm vụ khác nhau:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  Ngôi thứ Nhứt: Luôn luôn  	không hiện ra. Ngài vốn là Vô Ngã và cội rễ của sự sanh tồn.</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  Ngôi thứ Nhì: Phân chia  	Âm Dương – Tinh Thần và Vật Chất. Ngài bảo tồn những hình hài của  	Ngài đã tạo ra.</p>
<p style="text-align: justify;">3 –  Ngôi thứ Ba: Biến đổi  	Hỗn Nguơn Nhứt Khí Mulaprakriti ra những Nguyên tử và Phân tử đặng  	lập bảy Cõi trên Không gian.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> chương thứ nhì</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> bảy cõi trên không gian</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> (Les 7 plans cosmiques)</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bảy cõi này là:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  Cõi thứ Nhất là Plan  	Adi –  xin gọi là 	<strong>cõi Tối Ðại Niết Bàn Hư Không.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">2 –  Cõi thứ Nhì là Plan  	Anoupadaka –  xin gọi là 	<strong>cõi Ðại Niết Bàn Hư Không.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">3 –  Cõi thứ Ba là Plan  	Atmique Cosmique –  Monde divin  	–  xin gọi là 	<strong>cõi Niết Bàn Hư Không</strong>.</p>
<p style="text-align: justify;">4 –  Cõi thứ Tư là Bouddhique  	Cosmique, <strong>cõi Bồ Ðề Hư Không.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">5 – Cõi thứ Năm là Plan Mental Cosmique, 	<strong>cõi Trí Tuệ Hư Không</strong> hay là 	<strong>cõi Thượng Giới Hư Không.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">6 –  Cõi thứ Sáu là Plan  	Astral Cosmique, <strong>cõi Trung Giới Hư  	Không.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">7 –  Cõi thứ Bảy là 	<strong>cõi Hạ Giới Hư Không</strong> – Plan  	Physique Cosmique hay là Plan Cosmo Prakritique.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi cõi chia ra bảy cảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> trạng thái ba ngôi</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ba Ngôi có Ba Trạng thái khác nhau:</p>
<p style="text-align: justify;">1 –  	Trạng thái của Ngôi thứ Nhất là Ý Chí (Volonté).</p>
<p style="text-align: justify;">2 –  	Trạng thái của Ngôi thứ Nhì là Minh Triết (Sagesse).</p>
<p style="text-align: justify;">3 –  	Trạng thái của Ngôi thứ Ba là Hoạt Ðộng (Activités) có chỗ  	gọi là Trí Tuệ sanh hóa (Intelligence créatrice).</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> tượng trưng vô cực và ba ngôi</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta vẽ năm hình để tượng trưng Vô Cực và Ba Ngôi.</p>
<table style="text-align: justify;" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="103" height="5"></td>
<td width="98"></td>
<td width="86"></td>
<td width="98"></td>
<td width="94"></td>
<td width="90"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Hình số 1: Tượng trưng Vô Cực</p>
<p style="text-align: justify;">Hình số 2: Tượng trưng Ngôi Thứ Nhứt không hiện ra (1<sup>er</sup> Logos non manifesté). Cũng gọi là Thái Cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Hình số 3: Tượng trưng cho Ngôi thứ Nhì, phân chia Âm Dương, Tinh Thần  	và Vật Chất. Cũng gọi là Lưỡng Nghi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hình số 4: Tượng trưng Ngôi thứ Ba, hiệp nhất Âm Dương để sanh hóa.  	Cũng gọi là Tứ Tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hình số 5: (Tétraktys) tức là Thiên Không Tứ Tượng (Quaternaire  	Cosmique) tượng trưng ba trạng thái của Ba Ngôi nhập vào vật chất  	sẵn sàng sanh hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vòng tròn không còn nữa, chỉ còn Thập Tự Giá thì sự sanh hóa  	bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> vũ trụ sAnh RA để làm gì?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nêu ra câu hỏi: Vũ Trụ sanh ra để làm gì? thì câu trả lời liền  	là: Vũ Trụ sanh ra để giúp cho Chơn Thần tiến hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chơn Thần là ai?</p>
<p style="text-align: justify;">Chơn Thần là một Ðiểm Linh Quang của Thượng Ðế, chính là con của  	Ngài (Xin xem quyển 2 <em>Thái Dương  	Hệ của chúng ta</em>).</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> vũ trụ sAnh ra lần đầu tiên hồi nào?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vũ Trụ sanh ra lần đầu tiên hồi nào? Chắc chắn không một ai trả  	lời nổi. Biết chăng chỉ có tám Vị mà thôi: Ấy là Ðức Thượng Ðế  	và bảy Vị Hành Tinh Thượng Ðế Hư Không. Ðừng nói chi tới Vũ Trụ,  	quả Ðịa Cầu mình đây nếu hỏi nó được mấy tuổi và nhơn vật do  	cách nào sanh ra thì chắc phải làm thinh chớ biết làm sao mà trả  	lời.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nói theo thuyết La Place thì Ðịa Cầu trước kia là một bầu  	lửa, nó xây tròn và nguội lần rồi mới có sự sanh sản các loài  	vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói như thế tức là Lửa sanh ra Ðất, Lửa sanh ra Nước, Lửa sanh ra  	Kim Thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú và Con Người.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói tóm lại là Lửa sanh ra tất cả. Có phải như vậy hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn là Vật Chất chớ không có phần Tinh Thần là Linh Hồn. Vậy sự  	khôn ngoan của con người ở đâu đến?</p>
<p style="text-align: justify;">Tín điều thứ Hai trong 14 Tín điều của Phật giáo hiện kim như sau  	đây:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;VŨ TRỤ TIẾN HÓA CHỚ KHÔNG PHẢI SANH HÓA. NÓ VẬN CHUYỂN THEO ĐỊNH LUẬT CHỚ  	KHÔNG PHẢI DO TÁNH BẤT THƯỜNG CỦA MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðúng vậy, nhưng Vũ Trụ  	phải được sanh hóa lần đầu tiên rồi từ đó về sau mới tiến hóa,  	cũng như nếu cha mẹ chúng ta không sanh chúng ta ra đây thì làm sao  	chúng ta có thân mình đặng càng ngày càng lớn khôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Dầu sao chúng ta nên nhớ  	rằng: Tin tưởng là một việc và sự thật là một việc khác nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> đại kiếp CỦA vũ trụ,</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> sự luân hồi của trời đất</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những Thái Dương Hệ trên không gian đều tuân theo Luật Luân  	Hồi và Nhân Quả: sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, cứ nối tiếp nhau  	mãi không ngừng. Mỗi Thái Dương Hệ đều có một Ðại Kiếp riêng biệt  	khác nhau. Thái Dương Hệ nầy tan rã rồi thì tới Thái Dương Hệ kia.  	Tới một ngày kia, đúng ngày giờ thì tất cả những Ngôi Mặt Trời  	trên Không gian, dầu lớn hay nhỏ, sanh ra lâu đời hay mới sanh ra đều  	tắt hết một lượt rồi bắt đầu tan rã. Linh Hồn Vạn Vật đều nhập  	vô Tâm Ðức Thượng Ðế. Lúc đó trên không gian tối tăm mù mịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Xin quí bạn nhớ rằng: Hình hài làm bằng vật chất phải hư hoại,  	nhưng Tinh Thần là Sự Sống còn mãi không bao giờ mất.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc nầy là lúc nghỉ ngơi, bởi đã hết một Ðại Kiếp của Vũ Trụ.  	Thời kỳ nghỉ ngơi cũng dài bằng thời kỳ sanh hóa. Hết lúc nghỉ  	ngơi thì sanh hóa lại. Khi tái sanh, vạn vật đều ở vào vị trí cũ  	của mình, nghĩa là trước kia tiến đến bực nào thì bây giờ cũng ở  	vào bực đó, cả thảy đều lo hoạt động như trước. Một Bầu Hành Tinh,  	một Thái Dương Hệ hay là một Vũ Trụ đều phải trải qua bốn thời  	kỳ:</p>
<p style="text-align: justify;">–  Thành, Trụ, Hoại, Không.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng phải con người phải Luân Hồi mà Trời Ðất vẫn Luân Hồi vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> một đại kiếp CỦA vũ trụ gồm bao nhiêu năm trần thế?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Kinh Thánh Bà La Môn có nói rằng: Một Ðại Kiếp của  	Vũ Trụ gồm 100 năm Phạn Vương.</p>
<p style="text-align: justify;">Một năm Phạn Vương có 360 ngày và 360 đêm. Ngày và đêm dài bằng nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày Phạn Vương dài bằng 4.320.000.000 năm Trần thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Một đêm của Phạn Vương cũng dài bằng 4.320.000.000 năm Trần thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày và một đêm Phạn Vương dài 8.640.000.000 năm Trần thế.</p>
<p style="text-align: justify;">360 ngày và 360 đêm tức là một năm của Phạn Vương dài bằng:</p>
<p style="text-align: justify;">8.640.000,000 x 360 = 3.110.400.000.000 năm Trần thế.</p>
<p style="text-align: justify;">100 năm Phạn Vương dài bằng:</p>
<p style="text-align: justify;">3.110.400.000.000 x 100 = 311.040.000.000.000 năm Trần thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà Blavatsky nói rằng con số đó thuộc về Công truyền, Hiển, không  	đúng sự thật. Tuy nhiên người ta thường dùng số này.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta cho rằng Thái Dương Hệ của chúng ta sanh ra đã 1.056.884.703  	năm rồi. Nhưng tôi tưởng số đó chưa ắt đúng bởi vì mấy điều này  	không có tiết lộ ra ngoài. Và trong cuộc Tuần Hườn thứ Tư này 300  	triệu năm đã trôi qua tại quả Ðịa Cầu của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> chương thứ ba</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> hỗn nguơn nhỨt khí</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Hỗn Nguơn Nhứt Khí là chất khí hằng có đời đời trên không gian vô  	cùng vô tận. Tiếng Phạn là Mulaprakriti, cũng gọi là Koilon. Koilon  	có nghĩa là Trống không. Tiếng Pháp là Ether primordial, xin gọi là  	Tiên Thiên Dĩ Thái đặng phân biệt với Dĩ Thái Hồng Trần (Ether  	physique).</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> hỖn nguơn nhỨt khí trống rỖng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những vị mở tới Phật Nhãn hay Tối Thượng Huệ Nhãn xem coi Koilon  	thì thấy nó trống rỗng, nhưng nó vừa trống rỗng mà cũng vừa cứng  	rắn một lượt, điều mà chúng ta không quan niệm được. Tại sao vậy?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> hỗn nguơn nhỨt khí koilon là</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> chất cực kỳ cứng rắn</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Huyền bí học dạy rằng Ðức Thượng Ðế dùng thần lực của Ngài xoi  	lủng Hỗn Nguơn Nhứt Khí Koilon làm ra hằng hà sa số những lỗ  	trống, gọi là những bọt Koilon (Bulles de Koilon).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài phối hợp những bọt này đặng làm ra những nguyên tử căn bản (atome  	ultime) và dùng chúng nó để lập bảy cõi Trời hay là bảy cõi của  	Hư Không.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế thì Hỗn Nguơn Nhứt Khí cứng rắn lắm sao? Thật đúng vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà Bác học Anh Sir Oliver Lodge đã chứng minh điều này trong hai  	đoạn dưới đây –  trong quyển  	sách của ông.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> năng lượng của hỗn nguơn nhỨt khí</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> a) –  Sức mạnh cố hữu của  	Hỗn Nguơn Nhứt khí:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ông Sir Oliver Lodge nói:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Mỗi ly khối của không gian chứa đựng một cách thường trực một năng  	lượng mà hiện giờ chưa có thể hiểu thấu được, đụng chạm tới  	được, nó mạnh bằng năng lượng của toàn diện một cái máy điện,  	sức mạnh một triệu Kí-lô-hoách phát ra trong 30 triệu năm như vậy.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng mà sự ước lượng của ông còn thấp hơn chớ không phải cao hơn  	thực tế, nó còn kinh ngạc hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Energie intrinsèque de l&#8217;éther.</p>
<p style="text-align: justify;">Chaque millimètre cube de l&#8217;espace, dit-il, renferme d’ une manière  	permanente  et pour le moment,  	inaccessible, l’énergie totale qu’une installation d’une puissance d’un  	million de Kilowats produirait en trente millions d’années.</p>
<p style="text-align: justify;">Là encore, son estimation est bien plutôt en dessous qu’en­-dessus de la  	stupéfiante réalité.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðiều nầy nói ra như chuyện chiêm bao. Nửa thế kỷ trước, trừ ra các  	nhà Huyền bí học và vài nhà Khoa học, thì không ai tin được những  	lời trên đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng bây giờ người ta đã thấy sức mạnh của nguyên tử rồi thì chắc  	là người ta không còn phải hoài nghi về sức mạnh của  	Hỗn Nguơn Nhứt Khí (Koilon) nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> tỷ trỌng của hỗn nguơn nhỨt khí</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> b) –  Về tỷ trọng của Hỗn  	Nguơn Nhứt Khí Koilon</strong>,  	sau khi tính toán rồi ông Sir Oliver Lodge kết luận như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Do theo căn cứ nầy thì sự ước lượng thấp hơn hết của Tỷ trọng Hỗn  	Nguơn Nhứt Khí là 10 ngàn triệu lần (10 tỷ) tỷ trọng của Bạch kim.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi đoạn sau ông thêm vào câu này:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Tỷ trọng này có thể lên tới 50 ngàn triệu (50 tỷ) tỷ trọng của  	Bạch kim).&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;En faisant sur cette base une sorte d’estimation minima de la densité de  	l’éther, on arriverait à quelque chose comme dix mille millions de fois celle de platine.</p>
<p style="text-align: justify;">Il y ajoute plus loin que cette densité pourrait devenir cinquante mille  	millions de fois celle platine.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Trích trong quyển <em>Hóa Học Huyền  	Bí</em> của Ðại Ðức Annie Besant và Leadbeater. Xuất bản năm 1920  	(trương 154-155).</p>
<p style="text-align: justify;"><em> La Chimie Occulte</em> par A. Besant et Leadbeater. Edition 1920.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> một tấc khối của hỗn nguơn nhỨt khí nặng bao nhiêu?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ta biết rằng: tỷ trọng của Bạch kim là 21,4 có nghĩa là một tấc  	khối (dm<sup>3</sup>) Bạch kim nặng 21 kg 4, muốn kiếm sức nặng của 1  	tấc khối Hỗn Nguơn Nhứt Khí thì ta lấy 21 kg 4 nhân cho 10 tỷ thì ta  	sẽ có:</p>
<p style="text-align: justify;">21,4 x 10.000.000.000 = 214 tỷ Kí lô, nghĩa là một tấc khối Hỗn  	Nguơn Nhứt Khí nặng 214 tỷ Kí lô.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Sir Oliver Lodge còn nói con số này có thể tăng lên 5 lần như  	vậy nghĩa là một tấc khối Hỗn Nguơn Nhứt Khí có thể nặng 1.070 tỷ  	Kí lô.</p>
<p style="text-align: justify;">Áp lực của nó thật là phi thường. Ông Henri Poincaré, một nhà  	Toán học trứ danh của nước Pháp cũng có nói &#8220;Nguyên tử chỉ là  	một lỗ trống rỗng trong Hỗn Nguơn       	Nhứt Khí.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">(L&#8217;atome n’est qu’un trou dans l’éther).</p>
<p style="text-align: justify;">Ðể làm sáng tỏ vấn đề vật chất trống rỗng và vừa đặc cứng một  	lượt, tôi xin trích lục ra đây cho quí Huynh xem bài 	<em>Nguyên Tử</em>, một Tiểu Vũ Trụ  	đầy sự huyền diệu của Bác sĩ O’Brien đương kim Giáo sư Trường Ðại  	Học Notre Dame.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> chương thứ tư</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> nguyên tử</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> một bầu tiểu vũ trụ đầy sự huyền diệu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bác sĩ O’Brien, đương kim Giáo sư Trường Ðại Học Notre Dame. Suốt 35  	năm, Bác sĩ tận tụy với Khoa học, Triết  	học và Tôn giáo, thường giải thích sự phát triển của Khoa  	học. Ông sáng tác nhiều bộ sách có giá trị, như quyển 	<em>Truths Men Live By</em> (The Macmillan  	Co. –  xuất bản tại New York)  	được các nhà Bác học, các Triết gia và những nhà bênh vực Tôn  	giáo hoan nghinh nhiệt liệt.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta thấy một hành khách gọi năm người phu khuân vác tới khiêng  	một chiếc hộp nhỏ bằng bao thuốc lá như bao thuốc &#8220;Ách Chuồng,&#8221;  	chắc ta cho đó là trò hề. Nhưng khi thấy năm người lao công lực  	lưỡng ấy rán sức xô đẩy cái hộp không nhúc nhích, thì ta sẽ ngạc  	nhiên, không còn cho là một trò đùa nữa. Nếu vị hành khách nầy mở  	hộp ra cho ta thấy trong đó chỉ đựng một tí mảnh vụn vật chất nhỏ  	hơn đầu mũi kim thì ta sẽ sững sờ kinh ngạc dường nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, chiếc hộp được đem cân thì thấy nó nặng tới mấy ngàn ký,  	chắc chắn người ta sẽ dụi mắt mà tự hỏi: Phải chăng đây là chiêm  	bao? Thật sự, việc lạ kỳ nầy có thể xảy ra nơi cõi Trần như vậy  	sao?</p>
<p style="text-align: justify;">Mới đây, nhờ sự nghiên cứu về Vật lý hạch tâm (Physique nucléaire)  	các nhà Bác học khám phá ra một Tiểu Vũ Trụ mới có nhiều sự  	lạ lùng ngoài sức tưởng tượng của con người, còn ly kỳ hơn chuyện  	Tây Du, Phong Thần nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Hẳn thật, về Vật lý học, các nhà thông thái chứng minh rằng một  	hạt bụi nhỏ mà chúng ta vừa nói trên 	<em>có thể</em> cân nặng tới mấy tấn  	nếu được loại bỏ những khoảng trống không, rồi chồng chất các  	nguyên tố cấu thành ấy chung lại với nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy ra vật chất cũng có  	khoảng trống rỗng nữa sao? Dĩ nhiên là có. Hiện nay chúng ta đều  	biết hầu hết các cái trống không đều tạo thành vật chất. Ở  	khoảng giữa mênh mông trống rỗng, có những vi phân tử cực nhỏ, đến  	đỗi không thể thấy hay chụp ảnh được, vì nó quay cuồng với một  	tốc độ rất mau lẹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều lý thuyết gia Vật lý  	dùng toán học để chứng minh sự có thật những vi phân tử nhỏ nhít  	để học hỏi trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu nhiều hiện tượng  	kỳ diệu lạ lùng.</p>
<p style="text-align: justify;">Xưa kia, Tổ tiên ta biết  	rằng có nhiều chất hợp thành dung lượng là do các nguyên tử dày  	đặc và bất động hợp thành (ít ra họ cũng hiểu như vậy). Nhưng  	ngày nay, nhờ ra công tìm tòi thực hiện, các nhà Bác học tân thời  	khám phá nhiều việc mới mẻ làm xáo trộn những lý thuyết xưa và  	chứng minh rằng: Hầu hết vật chất là trống không và có rất nhiều  	vi phân tử đều chứa điện và quay cuồng với tốc độ hết sức mau lẹ.  	Còn nguyên tử thì giống như Thái Dương Hệ thâu nhỏ lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự phát minh này hãy còn  	mới mẻ, nên chưa phổ biến. Vào năm 1911, nhờ công thí nghiệm của  	nhà Vật lý Tân Tây Lan là ông Ernest Rutherford, được giải thưởng  	Nobel, trình bày rõ ràng về sự cấu tạo huyền diệu của nguyên tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Rutherford 	dùng nguyên tố do những chất phóng xạ phát ra để bắn phá lung tung  	nguyên tử. Nhưng lạ thay, các viên đạn vi phân tử xuyên qua nguyên tử  	như vào chỗ trống không, chẳng khác nào bắn vào ma quỉ vậy. Tuy  	nhiên, có vài viên đạn (trong 10.000 viên có chừng một viên trúng)  	dường như đụng vào vật gì nên bật văng ra.  	Rutherford 	liền hiểu rằng nguyên tử không phải hoàn toàn vô hình thể. Trong  	khoảng trống mênh mông, có vài nguyên tố tập trung năng lực hay thể  	chất của nguyên tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế giới mới trong nguyên  	tử có nhiều điều kỳ diệu mường tượng thuở xưa ông Galilée dùng  	viễn vọng kính nhìn xem vòm trời bao la chưa ai biết, rồi hốt nhiên  	khám phá ra Trái Ðất này không đứng yên một chỗ, mà nó xây chung  	quanh mặt trời như các hành tinh vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự khám phá vĩ đại của  	ông Galilée đánh đổ lý thuyết cũ kỹ là con người ở chính giữa  	Vũ Trụ. Nhờ vậy mà tánh khoe khoang, ngạo mạn của con người bị  	một vố rất nặng, trở nên khiêm tốn, nhìn biết Tạo Hóa là Ðấng Cao  	Cả, uy quyền, trọn lành vô lượng. Chắc chắn một ngày gần đây, sự  	tiết lộ Thái Dương Hệ nhỏ nhít của nguyên tử trở nên quan trọng  	như sự phát kiến của Galilée.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðây là công trình của các  	ông Thomson, Rutherford, Moseley, Bohr, Fermi, Millikan, Compton, Urey và  	nhiều nhà danh tiếng khác đã dẫn đường cho chúng ta suy xét và  	tìm hiểu thế nào là vật chất.</p>
<p style="text-align: justify;">Vật chất do các phân tử  	(molécules) hợp thành, đường bán kính trung bình bằng một phần  	mười triệu ly (1/10.000.000 <sup>m/m</sup>). Phân tử do các nguyên tử  	hợp thành. Nguyên tử nhỏ nhất, nhỏ đến nỗi ta lấy 5 triệu  	(5.000.000) hạt nguyên tử sắp thành hàng dài, thì nó chỉ lớn bằng  	cái chấm câu này<strong>.</strong> Nguyên tử  	do sự cấu tạo của một hay nhiều chánh điện tử (protons), chứa  	điện dương, hợp với trung hòa tử (neutrons) làm thành cái nhân  	(noyau). Chung quanh là điện tử (électrons) chứa  	điện âm, tương đương số chánh điện tử, quay vòng theo cái nhân  	với tốc độ mau lẹ không thể tưởng tượng được.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhà Thiên văn nhìn vào  	viễn vọng kính để dò xét bầu  	trời rộng bao la, thấy cái vực thẳm vĩ đại mênh mông xa cách  	các vì tinh tú thì không khỏi có cảm giác kinh ngạc và khủng  	khiếp. Nhưng đối với nguyên tử, nếu đem so sánh cái khoảng trống  	không với Thái Dương Hệ, thì nó còn rộng lớn hơn khoảng trống của  	Thái Dương Hệ chúng ta đang sanh sống đây rất nhiều. Vì vậy Khoa  	học cho rằng: Ðiều cốt yếu để tạo vật chất là cái trống không  	(le vide).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhìn vào tấm vách  	tường bằng bê tông, ta thấy toàn là một khối dày đặc cứng chắc,  	không chút kẽ hở, nhưng thật ra nó có rất nhiều lỗ trống lớn và  	thưa thớt như lưới bắt cá vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày kia, trong khi  	giảng bài, Giáo sư O’Brien hỏi một người sanh viên có chân trong  	đoàn túc cầu:</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Anh cân được bao nhiêu?</p>
<p style="text-align: justify;">Sanh viên đáp:</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Một trăm ký.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo sư hỏi tiếp:</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Hỏi thật chớ không có ác ý. Nếu người ta vứt bỏ hết cái  	trống không từ đầu đến chân của anh rồi chất đống lại thì anh còn  	bao lớn?</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Tôi tưởng trong thân thể của tôi chẳng có khoảng trống nào  	đáng kể.</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Vậy anh hãy nghe đây. Nếu bỏ hết mấy khoảng trống không của  	anh mà chất đống lại thì xác thân của anh chỉ còn bằng hạt bụi  	nhỏ xíu, nhỏ đến đỗi mắt thường không thấy. Anh tin lời tôi không?  	Vậy anh hãy đọc đoạn này của một Vật lý gia lừng danh nước Anh  	là Arthur Eddington, đương kim Giáo sư Ðại Học Ðường  	Cambridge.</p>
<p style="text-align: justify;">Dứt lời, ông trao quyển  	sách của Giáo sư Eddington nhan đề 	<em>Vạn Vật của Vũ Trụ Hồng Trần</em> (<em>The Nature of the  	Physical World</em>) có mấy hàng như vầy:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Sự tiết lộ của Lý học  	tân tiến về cái trống không trong nguyên tử làm cho trí khôn con  	người còn sững sờ hơn là sự tiết lộ của các Ðịnh Tinh. Nguyên tử  	cũng xốp và có lỗ hở như Thái Dương Hệ vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta loại bỏ hết  	các khoảng trống không trong thân thể con người và gom góp lại  	những CHÁNH ĐIỆN TỬ và ÐIỆN TỬ của con người làm thành một khối, thì  	xác thân của chúng ta chỉ còn nhỏ bằng hạt bụi, phải dùng kính  	phóng đại mới đủ sức thấy mà thôi.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Cách thay hình đổi dạng  	này chỉ là sự sa thải những khoảng trống không và chỉ để lại  	các phân tử của vật chất, vì vậy sức nặng của cái hạt dày đặc  	điện tử và chánh điện tử của cầu thủ cao 1 thước 85 phân bằng  	hạt bụi gần như không thấy được đó cũng cân nặng 100 ký.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng một lẽ ấy, nếu chúng  	ta loại bỏ những khoảng trống không nguyên tử của các vật chất nơi  	Trái Ðất này thì Bầu Hành Tinh của chúng ta ở đây sẽ gầy bớt,  	và đường kính của Trái Ðất đo được một ngàn thước là nhiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Tốc độ của các phân tử  	quay theo quỷ đạo của nó cũng lạ thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày kia, Giáo sư O’Brien  	hỏi một trong các sanh viên của ông đang ngậm ống điếu:</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Theo ý anh, những nguyên tố của cái ống điếu mà anh đang hút  	đó nằm yên hay chuyển động?</p>
<p style="text-align: justify;">Sanh viên đáp:</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Tôi tưởng nó nằm yên.</p>
<p style="text-align: justify;">–  	Này, ống điếu anh đang hút đó do sự phối hợp ba bộ phận  	nhỏ căn bản: ÐIỆN TỬ, TRUNG HÒA TỬ và CHÁNH ĐIỆN TỬ hợp thành; điện  	tử quay tròn mãi không ngừng theo chung quanh cái nhân do CHÁNH ĐIỆN TỬ  	và TRUNG HÒA TỬ hợp lại. Thật ra, những Ðiện tử trong ống điếu của  	anh nó xây vòng theo quỷ đạo (Orbites) hơn một triệu lần trong một  	giây đồng hồ! Các nhà Lý học nhìn nhận tốc độ quỷ đạo mau lẹ  	quá trí tưởng tượng con người là chuyện thật của Khoa học khỏi  	phải bàn cãi gì nữa. Tốc độ điện tử còn mau hơn tốc độ các  	Hành Tinh rất nhiều, mặc dầu nguyên tử nhỏ cực điểm. Những phần  	tử BETA do phóng xạ thể (Corps radio-actifs) phát ra quá mau lẹ với  	tốc độ 300.000 cây số trong một giây, bằng tốc độ ánh sáng.</p>
<p style="text-align: justify;">Dầu trong một phần nhỏ mọn  	nào của vật chất cũng đều chứa một năng lực gần như vô tận. Nếu  	ta dùng trọn năng lực nguyên tử của miếng than đá, thì có thể làm  	cho chiếc tàu thủy khổng lồ và đẹp nhất thế giới, là chiếc  	&#8220;Queen Mary&#8221; chạy qua biển Ðại Tây Dương lượt đi và lượt về.</p>
<p style="text-align: justify;">Mới đây Bác sĩ George Clark,  	Giáo sư Ðại Học Illinois, nổi tiếng khắp hoàn cầu về môn này, trong  	một buổi giảng, có chiếu trên màn ảnh, quang phổ X (spectre de rayon  	X) một vệt lọ nghẹ, thì thấy hiện trên màn bạc vệt lọ đó, sự  	cấu tạo thiên nhiên, kết thành nhiều hình học (figures  	géométriques) rất mỹ thuật, như một nghệ thuật kiến trúc tuyệt  	hảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự cân xứng toàn mỹ về  	cách sắp đặt thứ tự các cấu tạo phân tử rất đúng theo toán học,  	có thể nói là một kho tàng vô giá ẩn tàng trong vết lọ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi đó, nhà Bác học bước  	sâu vào – mặc dầu rất ít – thế giới huyền diệu của vật chất, tất  	cả đều hấp dẫn say mê, yên   	lặng mơ mộng trước vẻ đẹp huy hoàng mà họ vừa thấy thoáng qua  	giữa những hạt bụi cát. Những sự khám phá về Lý học hạch tâm đã  	đánh đổ chủ nghĩa duy vật bằng sự giải thích minh bạch về Vũ  	Trụ. Hơn nữa sự khám phá quan trọng này làm tăng thêm sự tin tưởng  	vững chắc và ghi khắc vào lòng con người sự thật, 	<strong>có Ðấng Sáng Tạo</strong>. Theo các  	bậc thông thái thì không có vật chất nào vô giá trị, dầu trong  	phần nhỏ mọn của vật chất đều có sự mỹ lệ huyền diệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuở xưa, người ta chỉ trên  	vòm Trời mênh mông đầy ánh sao nhấp nhoáng để chứng tỏ rằng có  	một Ðấng Cao Cả. Ngày nay, nhờ sự tiến triển mới mẻ của Khoa  	Thiên văn chẳng những làm vững chắc bằng chứng, mà còn thêm sự  	kính cẩn khi chiêm ngưỡng sự lạ lùng của bầu trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn Ðức Thượng Ðế tỏ sự  	uy nghiêm của Ngài trong những Dãy Ngân Hà, những Thái Dương Hệ và  	những Vũ Trụ tí hon như hạt bụi. Nhưng dường như sự uy nghi của  	Ngài ẩn tàng trong những vi phân tử của hạt bụi còn nhiều hơn các  	vì sao trên Trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự kết quả về nguyên tử lý  	học chứng minh lời chơn thành của Thánh Augustin hồi thế kỷ thứ  	tư, khi Thánh tuyên hô: &#8220;Deus est maximum in minimis.&#8221; NHỮNG VẬT HÈN MỌN  	CHỪNG NÀO, THÌ SỰ UY QUYỀN CỦA THƯỢNG ĐẾ CÀNG SÁNG TỎ THÊM CHỪNG NẤY.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng chứng là khi nghiên  	cứu về nguyên tử, các nhà Bác học thường gặp những định luật  	toán pháp chỉ rõ ràng đường lối duy vật không thể giải thích  	được thế giới vô hình. Thay lời cho Khoa học, nhà thông thái Andrews  	Millikan tuyên bố: &#8220;Kẻ nào biết suy xét đều có phương pháp riêng để  	tin tưởng có Thượng Ðế.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Nguyễn Tấn Tài</strong></p>
<p style="text-align: justify;">(Thuật theo <em>Sélection du Reader&#8217;s  	Digest</em>, viết theo quyển <em>Truths  	Men Live By</em>, của Giáo sư O’Brien).</p>
<p style="text-align: justify;">(Trích <em>Ðạo Học</em> số 11 ngày  	15-8-1954)</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> vật chất trống không</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dầu ta thấy vật chất  	có hình dạng, màu sắc và rất cứng. Ta tưởng nó đặc, nhưng kỳ  	thật là nó trống rỗng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà Ðại Toán học Henri  	Poincaré có nói: Vật chất chỉ là một lỗ trống trong Dĩ thái (La  	matière n&#8217;est qu&#8217;un trou dans l&#8217;éther).</p>
<p style="text-align: justify;">Lời tuyên bố này vẫn giống  	y như Huyền bí học, nhưng phải mở Thần Nhãn thì mới thấy nó  	trống rỗng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự phân tách một nguyên tử  	mới chứng minh được điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tử gồm hai phần:</p>
<p style="text-align: justify;">Ở chính giữa là một hột  	gọi là nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">Chung quanh nhân có những âm  	điện tử xây tròn không khác nào những hành tinh xây chung quanh Mặt  	Trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhân cũng gồm có hai phần:</p>
<p style="text-align: justify;">Những dương điện tử  	(protons) và những trung hòa tử (neutrons) không chứa thứ điện nào  	cả. Nếu đem phân tích nữa thì sẽ thấy những gì, không ai biết.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta chỉ biết rằng thân mình  	của các loài vật từ Kim Thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú cho tới Con  	Người đều làm bằng những tế bào. Mỗi tế bào do nguyên tử hợp  	thành. Thế thì thân mình các loài vật đều là những bầu điện  	lực.</p>
<p style="text-align: justify;">Thử hỏi Ðiện là gì? Thì  	người ta chỉ trả lời Ðiện là một thứ rung động.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy thì vật chất vốn  	trống không. Nhưng đừng tưởng trống không là không có gì hết. Có  	&#8220;Cái Ðó&#8221; song ta chưa biết nó ra sao. Có sự rung động thì làm sao  	nói rằng: &#8220;Không có gì hết được.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong> parabrahm –  vô cực –  	bất khả tri</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Kinh Thánh Ấn còn dùng một  	tiếng nữa là Parabrahm nghĩa là Vô Cực, Bất Khả Tri (Absolu,  	Inconnaissable).</p>
<p style="text-align: justify;">Bàn đến việc tạo lập Vũ  	Trụ Càn Khôn là việc lấy ngao lường biển rồi, thì bàn đến Vô  	Cực, Bất Khả Tri làm chi nữa. Bất quá là thỏa mãn tánh hiếu kỳ  	chớ không đi đến kết quả nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật quả đúng như lời Phật  	nói:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Om!  	Amitaya! Chớ nên ướm thử dùng lời nói mà đo cõi vô biên hay là  	nhúng dây tư tưởng vào cõi vô tận. Người hỏi cũng lầm mà người  	trả lời cũng lầm vậy. Ðừng nói chi cả.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên chúng ta nên tìm  	hiểu con người sanh ra ở cõi Trần làm chi và phải làm thế nào  	đặng đạt được mục đích đã định sẵn cho nhơn loại trong Thái Dương  	Hệ nầy trước ngày giờ do Thiên Cơ đã định.</p>
<p style="text-align: justify;">Bao nhiêu đây tôi tưởng cũng là nhiều lắm rồi.</p>
<p><strong>hết tập 1</strong></p>
<h2  class="related_post_title">Các Bài Có Liên Quan</h2><ul class="related_post"><li><a href="http://www.hugle.net/chon-nhon-va-cac-ha-the/" title="Chơn Nhơn và Các Hạ Thể">Chơn Nhơn và Các Hạ Thể</a> (0)<br /><small>Có biết bao nhiêu sự lẫn lộn giữa tâm thức với các hiện thể, giữa chơn nhơn với ...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/coi-trung-gioi/" title="Cõi Trung Giới">Cõi Trung Giới</a> (0)<br /><small>Tác giả của chúng ta chọn đề tài “Cõi Trung Giới”. Ở đây tôi có mô tả lại sự việ...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/doi-song-sau-khi-chet/" title="Đời Sống Sau Khi Chết">Đời Sống Sau Khi Chết</a> (0)<br /><small>Đề tài đời sống sau khi chết là một đề tài rất thú vị đối với tất cả chúng ta, c...</small></li><li><a href="http://www.hugle.net/ta-thuat-o-chau-atlantis/" title="Tà Thuật Ở Châu Atlantis">Tà Thuật Ở Châu Atlantis</a> (0)<br /><small>Trong vòng 100.000 năm sau thời điểm 200.000 năm trước Công nguyên, dân Atlantis...</small></li></ul>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.hugle.net/vu%cc%83-tru%cc%a3-va-thuo%cc%a3ng-de%cc%81/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thiền Chữa Trị Thân Tâm</title>
		<link>http://www.hugle.net/thien-chua-tri-than-tam/</link>
		<comments>http://www.hugle.net/thien-chua-tri-than-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 28 Jan 2010 10:40:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thiền]]></category>
		<category><![CDATA[Thiền Sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.hugle.net/?p=382</guid>
		<description><![CDATA[
Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có thứ nào bằng Pháp (trích từ Milindapanha). Ngày nay, những nguyên tắc và những thực hành Chánh niệm (sati) và Thiền quán Minh sát (vipassanà) của Phật giáo đã được áp dụng cho nhiều mặt phức hợp [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a class="post_image_link" href="http://www.hugle.net/thien-chua-tri-than-tam/" title="Permanent link to Thiền Chữa Trị Thân Tâm"><img class="post_image alignright" src="http://www.hugle.net/wp-content/uploads/2010/01/thien-chua-than-tam.jpg" width="225" height="300" alt="Post image for Thiền Chữa Trị Thân Tâm" /></a>
</p><p style="text-align: justify;">Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có thứ nào bằng Pháp (trích từ Milindapanha). Ngày nay, những nguyên tắc và những thực hành Chánh niệm (sati) và Thiền quán Minh sát (vipassanà) của Phật giáo đã được áp dụng cho nhiều mặt phức hợp của đời sống hiện đại. Ở nhiều quốc gia, ngành y đang phối hợp những thực hành thiền Phật giáo vào nhiều mặt chữa trị.</p>
<p style="text-align: justify;">Thoạt nhìn, có vẻ đó là một phối hợp lạ thường &#8211; sự tu tâm ở tu viện với khoa Sinh học duy vật, nhưng nhìn sát sao hơn thì cả hai bên đều phát lộ tính tương hợp sâu xa của chúng. Có những cách nhìn mới về mối liên hệ giữa tâm và thân, cùng với những kiểu mẫu mới về tình trạng khỏe mạnh. Giao diện giữa thiền định và chữa trị đáng để khám phá thêm nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ sự giảm thiểu căng thẳng (stress) dựa vào thiền Minh sát và Chánh niệm được thực hành như một hình thức của Phật giáo nhập thế. Trong Tam tạng Pàli, người ta có thể tìm thấy lặp đi lặp lại nhiều ẩn dụ về chữa lành có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau. Điều này chứng tỏ sự chữa lành là một hệ thức nội tại trong toàn bộ sự tu tập của Phật giáo. Theo nghĩa này, Đức Phật là một đại y sĩ, do lòng bi cho sự an ổn của tất cả chúng sinh, đã tìm ra và chia sẻ một phương cách chữa bệnh cho căn bệnh gốc của đời người. Lời dạy của Phật, tức là Pháp, là phương thuốc chữa lành ấy. Chính xác hơn, đó là đơn thuốc mà mỗi người bệnh phải dùng hợp với phần mình. Khi ấy, Tăng già và cư sĩ là một xã hội giúp đỡ lẫn nhau trên con đường lành bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Công thức Bốn chân lý cao cả được đặt cơ sở trên truyền thống y học. Chân lý thứ nhất (bệnh khổ) chỉ ra những triệu chứng hiện bày của một phiền não ẩn tàng. Sự có mặt của già và chết, lo sầu, khổ sở và tuyệt vọng cho thấy tất cả chúng đều thoát thai từ cùng một hoàn cảnh nền tảng: dukkha, khổ đau hay sự bất toại nguyện của thân phận con người. Một người chữa bệnh cũng như một người bệnh, không thể bắt đầu tiến trình chữa lành nếu không chẩn đoán căn bệnh. Chân lý thứ hai (những nguyên nhân của bệnh khổ) gợi ý vai trò của y sĩ như là người chẩn đoán. Chỉ khi hiểu nguyên nhân gây bệnh mới có thể chạy chữa. Phân tích của Phật pháp về tâm và thân cho thấy nguyên nhân là do tham muốn (tanhà). Chân lý thứ ba (hết bệnh khổ) là một tiên lượng đầy hy vọng: loại bỏ khao khát sẽ thành loại bỏ khổ, như sự lành bệnh thân tâm của Đức Phật dưới cội bồ đề, năng lực khỏe mạnh của Ngài hơn bốn mươi lăm năm sau đó của công cuộc thuyết pháp và cứu độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chế độ chữa trị được trình bày trong chân lý thứ tư của Phật [con đường tám ngành (dẫn đến khỏe mạnh)] kèm theo đơn thuốc của nhiều loại điều trị. Có những khác biệt lớn trong những triệu chứng cá nhân của chỉ một loại bệnh: mỗi người bệnh biểu hiện những triệu chứng khác nhau trên tiến trình chữa trị, mạnh yếu khác nhau, có những thái độ khác nhau và ở trong những môi trường khác nhau. Y sĩ giỏi sẽ cảm nhận những tình huống riêng biệt và điều chỉnh chiến thuật một cách sáng tạo, dù ông ta vẫn rút ra từ những nguyên lý đã được chứng nghiệm và áp dụng một cách mềm dẻo. Suốt 2.500 năm, Phật giáo có sự đồng thuận chung về ba chân lý đầu (bệnh, nguyên nhân của bệnh, hết bệnh), nhưng có sự đóng góp và cách tân nhiều cách khác nhau vào sự thực hành chân lý thứ tư &#8211; nghệ thuật chữa lành chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Một cuộc bàn luận được kể lại trong kinh Màgandiya (Trường Bộ kinh) giữa Đức Phật và du sĩ Màgandiya về bản chất của sức khỏe. Có một người bị bệnh cùi, sự thống khổ cực độ của anh chỉ dịu bớt khi đốt tay chân bằng than đỏ. Anh tiếp tục cào gãi và đốt thân để có được sự nhẹ bớt tạm thời, dù hành động ấy làm cho hoàn cảnh anh tệ hơn, trầm trọng hơn. Dù mọi người khác đều cho lửa là gây đau đớn, chỉ có người bệnh cùi cho rằng lửa là nguồn thoát khổ. Thời gian sau, anh được chữa lành nhờ một y sĩ cho thuốc, lúc đó anh không còn thích đưa tay chân vào lửa nữa. Nếu những người mạnh nắm lấy anh và đưa anh đến gần lửa, anh sẽ chống cự dữ dội, vì bây giờ anh kinh nghiệm rằng lửa gây đau đớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện này được trình bày trong bối cảnh một đời trước của Đức Phật, khi Ngài là một hoàng tử, Ngài đã tìm sự nhẹ bớt khỏi những rắc rối trong cuộc sống bằng cách theo đuổi dục lạc. Từ sự thức tỉnh và cuộc đời t